Monthly Archives: June 2017

Giải pháp quản lý chất thải hữu cơ mô hình nuôi tôm trên ao đáy đất

Việc loại bỏ chất thải hữu cơ (phân tôm, thức ăn thừa, xác tảo chết) ra khỏi ao nuôi tôm có trải bạt đã quen thuộc với người nuôi tôm. Ở hệ thống ao nuôi này, toàn bộ ao được trải bạt, thiết kế một hố ở giữa ao để quy tụ chất thải và ống PVC chạy ngầm dưới đáy ao đưa chất thải ra ngoài mỗi khi mở van xả.

Giải pháp quản lý chất thải hữu cơ mô hình nuôi tôm trên ao đáy đất

Đồng bằng sông Cửu Long chiếm phần lớn là mô hình nuôi tôm trên ao đáy đất, nuôi với mật độ thưa dưới 100 con/m2. Ở mô hình này, người nuôi tôm thường không thiết kế hệ thống xi phông đáy ao như hệ thống ao bạt nên không đưa được chất thải ra ngoài. Điều này khiến nguồn chất thải tích tụ dưới ao và sinh ra các loại khí độc; môi trường giàu dinh dưỡng làm vi khuẩn gây bệnh phát triển lên rất nhanh và thường thì tảo phát triển quá mức làm dao động pH, thiếu ôxy vào ban đêm…

Thông thường người nuôi tôm dùng nhiều vi sinh với hy vọng rằng chúng sẽ giúp phân hủy và chuyển hóa chất thải, duy trì được chất lượng nước; nhưng thực tế, vi sinh bán tràn lan hiện nay không phải lúc nào cũng hữu hiệu và rất tốn kém.

Qua khảo sát, một số người nuôi tôm đã cải tiến ao nuôi tôm đáy đất và thiết kế cách đưa chất thải ra ngoài rất đơn giản, không tốn kém và đem lại hiệu quả rất tốt. Mô hình này nên được nhân rộng đến người nuôi tôm.

1. Thiết kế ao

Sau khi hút cạn ao, người nuôi tôm nên quan sát đáy ao khu vực nào giữa ao tích tụ nhiều chất thải hữu cơ do quá trình chạy quạt gom lại, đánh dấu khu vực đó, đồng thời đánh dấu vị trí lắp quạt để khi chạy quạt vụ sau, chất thải vẫn gom đúng chỗ cũ.

Đào một hố sâu khoảng 80 cm toàn bộ khu vực chất thải gom lại, sau đó lấy bạt trải hết đáy hố và thành hố. Phần mép bạt được cuộn vào thanh tre và chôn sâu khoảng 20 cm. Việc chỉ trải bạt hố xi phông không quá tốn kém mà vẫn hút sạch hoàn toàn chất thải nên công dụng không kém hố xi phông của ao trải toàn bộ bạt đáy.

Để hiệu quả hơn, dàn quạt nên được lắp sao cho hiệu quả gom chất thải càng tập trung vào một điểm giữa ao càng tốt, khi đó hố xi phông không cần quá lớn mà vẫn hiệu quả lại dễ vận hành, tốn ít thời gian cho quá trình xi phông hơn.

Đặt một mô tơ khoảng 2 – 3 HP trên bờ, lắp một ống PVC hoặc ống gân đường kính 60 nối từ mô tơ đến giữa ao để giúp bơm chất thải ra ngoài. Ống này nên đặt nổi cách mặt nước 20 – 30 cm, dùng tầm vông để đỡ ống. Phần đầu hút xi phông gắn vào ống gân mềm để dễ vận hành di chuyển toàn bộ khu vực hố. Phần chất thải đi từ mô tơ đến ao thải có thể dùng ống mềm (ống vải) để dễ cuộn lại, sử dụng cho nhiều ao. Nếu 2 ao tôm cạnh nhau có thể thiết kế chung một mô tơ đặt trên bờ chung để sử dụng cho 2 ao.

2. Vận hành

Khi bơm nước vào ao, nên bơm đầy hố xi phông ở giữa ao trước, sau khi bơm đầy hố, áp lực nước từ trên xuống sẽ ép bạt dính chặt xuống đáy và xung quanh hố khiến bạt không bị phồng lên

Có thể tiến hành hành xi phông cho ao khi tôm đạt kích cỡ từ 2 g trở lên. Dùng thuyền hoặc phao ngồi trên để di chuyển đầu xi phông toàn bộ hố. Nếu tiến hành xi phông hằng ngày, đáy ao sẽ không bẩn thì hoàn toàn có thể lội xuống đứng dưới ao xi phông mà không ảnh hưởng gì và cũng dễ kiểm tra mức độ sạch bẩn của đáy ao. Theo kinh nghiệm, nên xi phông mỗi buổi sáng, thời gian xi phông chỉ khoảng 30 phút đến 1 giờ mỗi hố, điều này sẽ hạn chế được rất nhiều chất thải lắng tụ ở đáy ao, giúp duy trì chất lượng nước và đặc biệt giảm được lượng vi sinh cần thiết; hoặc cũng với lượng vi sinh tương tự, nhưng hiệu quả của vi sinh được tốt hơn vì lượng chất thải trong ao ít hơn. Phần nước hao hụt mỗi lần xi phông khoảng 2% nước sẽ được bơm bù lại từ ao chứa đã được xử lý.

Chất thải đưa ra ngoài ao chứa thải nuôi cá rô phi để chúng sử dụng làm thức ăn, và sẽ được tảo và hệ vi sinh tại ao chứa thải hấp thụ. Nếu kiểm tra chất lượng nước ao chứa thải tốt thì hoàn toàn có thể tái sử dụng lại ao nuôi.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/giai-phap-quan-ly-chat-thai-huu-co-mo-hinh-nuoi-tom-tren-ao-day-dat-58e4a148e49519f6698b456b.html

An toàn sinh học cho ao nuôi tôm

Tóm tắt: vì sự lan rộng toàn cầu của virus ảnh hưởng đến trại tôm, nên an toàn sinh học đã trở thành một nhân tố thiết yếu của mọi hoạt động nông nghiệp. An toàn sinh học bắt nguồn từ chất lượng trong việc thiết kế trại, theo sau đó là các hoạt động an toàn và hoạt động nông nghiệp. Hiểu được đặc tính của virus gây vấn đề là một yếu tố quan trọng trong việc kiểm soát nó. Tuy nhiên không có cách nào để biết được khi nào virus tấn công sẽ xuất hiện, nên việc hướng dẫn tại các trang trại là rất quan trọng.

An toàn sinh học cho ao nuôi tôm

Trong hình: Những ao nuôi an toàn sinh học này sử dụng các hàng rào và hàng rào chim để ngăn chặn các mầm bệnh gây bệnh.

Thành công hay thất bại trong việc nuôi tôm thường phụ thuộc vào mức độ ngăn ngừa thành công những bộc phát của virus. Hầu hết vị trí các trang trại ở Châu Á không có nơi nào không virus, vì thế các cơ sở vật chất phải hoạt động trước sự đe dọa của virus.

An toàn sinh học đã được áp dụng để kiểm soát virus từ lúc giới thiệu tôm thẻ chân trắng tại Châu Á năm 2002. An toàn sinh học bắt đầu với thiết kế trang trại có chất lượng và được theo sau bởi hoạt động của hệ thống an toàn sinh học. Với thiết kế hợp lý, vận hành và được đào tạo tại chỗ tại các nông trại, các vấn đề liên quan đến virus có thể sẽ được giảm thiểu.

Đặc tính virus. 

Hiểu được đặc tính của virus gây hại chính là một nhân tố quan trọng nhất trong việc điều khiển nó. Trong trường hợp hội chứng virus đốm trắng (WSSV), tàn phá ngành nuôi tôm trong nhiều thập kỷ nay, virus này được biến đến là có thể hoạt động tự do trong nước đến 72 giờ. Nếu nó có thể hoạt động trong tôm vừa chết, và tiềm tàng trong tôm đông lạnh tươi thì WSSV sau đó có thể hoạt động trở lại trong môi trường thuận lợi. Cua trưởng thành và cua trong giai đoạn ấu trùng và động vật giáp xác chính là nơi mang mầm bệnh WSSV. Chim được cho là đã lây lan mầm bệnh bằng cách bắt những con tôm bệnh ra khỏi ao và thả chúng vào những ao và nông trại khác.

Nhìn chung, WSSV tấn công sớm vào giai đoạn nuôi trồng, trước ngày thứ 45 nếu trong nước.Nhân tố môi trường khác đóng vai trò quan trọng chính là thời tiết, đặc biệt là mưa liên tục và lạnh. Ai cũng biết là nếu nhiệt độ dưới 26°C sẽ khiến cho nông trại trở nên dễ dàng nhiễm virus bộc phát. Khi điều này xảy ra, một trong những điều quan trọng nhất chính là không để ảnh hưởng đến tôm.

Xây dựng và thiết kế nông trại. 

Thiết kế của nông trại cần phải phù hợp với những hoạt động an toàn sinh học. Hệ thống mô đun trong đó nước biển đổ vào được xử lý trong các ao chứa trước khi sử dụng trong các ao chăn nuôi là một thiết kế hiệu quả nhất. Nước từ một nguồn đến mô-đun cần được thông qua ít nhất hai ao xử lý trước khi đổ ra các kênh.

Tất cả nước đưa vào và chảy ra đều cần phải được bảo vệ hoàn toàn khỏi việc rò rỉ. Lót ao bằng polyethylene (một loại nylon) với mật độ cao hoặc bê tông làm tăng an toàn sinh học. Để ngăn chặn những vật truyền virus xâm nhập vào mô- đun, hàng rào chắn cua và đường ngăn chim cần phải được lắp đặt. Để đạt được năng suất trong chăn nuôi, cần có một hệ thống thoát nước trung tâm.

Hậu ấu trùng, và xử lý nước. 

Trong hoạt động chăn nuôi, chỉ có hậu ấu trùng sạch bệnh mới được sử dụng. Mật độ thả giống phải phù hợp với năng lượng đầu vào và kích thước hệ thống để tránh ảnh hưởng đến tôm trong hồ. Đảm bảo rằng chất lượng hậu ấu trùng được duy trì bằng cách kiểm tra kích thước tiêu chuẩn và mang cũng phát triển.

Hạn chế thay nước nên được áp dụng trong hệ thống chăn nuôi, và chỉ sử dụng nước đã được xử lý. Xử lý nước cần phải bao hàm vật lý, hóa học và phương pháp tiêu diệt mầm virus và những cá thể truyền virus. Tất cả các lạch cung cấp nước phải được phủ bằng 250-? lưới để lọc ra các động vật giáp xác, ấu trùng vào ao nuôi.

Để đảm bảo rằng tất cả cá thể mang mầm bệnh bị tiêu diệt, clo và những hóa chất được chấp thuận khác được cho vào hồ trữ và ao nuôi. Nước sau đó được giữ trong ít nhất 72 giờ để hủy hoại tất cả những mầm virus. Thay nước nên hạn chế trong suốt quá trình hoạt động để giảm thiểu khả năng đưa vào những mầm virus.

Quản lý ao nước. 

Mật độ thả tiền ấu trùng và năng lượng sử dụng trong ao nuôi cần phải được tính toán dựa trên cấu trúc hồ, và hệ thống áp dụng. Chiến lược thoát khí cần phải được hoạt động để giữ nước trong hồ có lượng oxy hòa tan tại mức độ thống nhất bằng cách hoạt động liên tục suốt ngày và đêm trong khi cũng nên xem xét chi phí năng lượng.

Để làm tăng sức chứa của ao nuôi, bùn tích tụ dưới đáy ao cần phải loại bỏ bằng cách rút ra thông qua một cống trung tâm. Việc rút ra thường bắt đầu đầu từ ngày 40 đến ngày 50, tùy thuộc vào việc quản lý ao. Ao nuôi có thể được rút 2-3 lần mỗi tuần tối đa hai giờ mỗi lần.

Kiểm soát con người và thiết bị. 

Một yếu tố quan trọng nữa chính là kiểm soát hiệu quả yếu tố vận chuyển của con người và thiết bị sử dụng vì những vật trung gian này có thể mang virus đến. Kiểm soát con người được áp dụng cho người quản lý ao cũng như các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm. Mỗi ao cần phải có thiết bị riêng để kiểm tra nước. Nếu phải chia sẻ những thiết bị như lưới, cần phải quan tâm việc khử trùng lưới trước và sau khi sử dụng.

Chỉ những người có trách nhiệm được chỉ định mới có thể xử lý mẫu và thiết bị. Nếu được yêu cầu, những mẫu thử có thể mang đến phòng thí nghiệm để được phân tích thêm.

Kiểm dịch, an toàn sinh học. 

Trong trường hợp virus bùng phát, giao thức kiểm dịch cần thiết phải được tuân thủ nghiêm ngặt để ngăn ngừa virus lây sang ao khác hay cả nông trại. Ngay sau khi một ao được nghi ngờ là bị virus tấn công, ao đó phải được kiểm dịch với những dấu hiệu và tiêu chuẩn khác để ngăn chặn việc xâm nhập khu vực ao. Đảm bảo tất cả cổng vào và ra từ hồ được đóng lại an toàn.

Nếu phát hiện dương tính với virus, ao phải được khử trùng với clo với một liều lượng cao hơn bình thường càng sớm càng tốt. Đừng lãng phí thời gian chờ đợi những báo cáo về phản ứng chuỗi trùng hợp. Tất cả tôm chết cần phải thu thập lại và thiêu hủy hay chôn. Ngừng hoạt động tất cả thiết bị sục khí, nhưng không được đưa nó ra khỏi hồ. Để nước ở trong đó trong vòng 1 tuần trước khi thải ra .

Nhân tố con người cần thiết trong việc kiểm soát khu vực cách ly. Tất cả những mẫu tôm và bảng phân tích môi trường cần phải hoãn lại để ngăn ngừa lây lan đến các mô-đun hay những ao khác. Một đội đặc biệt cần được phân công để thực hiện các công tác kiểm dịch.

Nhận thức về an toàn sinh học là cần thiết cho tất cả nhân viên ở trang trại. Không có cách nào khác để biết khi nào virus tấn công sẽ xuất hiện, vì thế giáo dục thông qua những buổi hội thảo hay họp cho tất cả các cấp tại trang trại là rất quan trọng.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/an-toan-sinh-hoc-cho-ao-nuoi-tom-58e5e27ee495196a468b456b.html

Mô hình mới: Trồng dâu ta lấy quả, mỗi năm có 200 triệu đồng

Bằng ý chí quyết đoán, sáng tạo, lão nông Quốc gàn- tên mà nhiều người thường gọi – đã “đổi đời” khi có thu nhập khoảng 200 triệu đồng/năm nhờ trồng cây dâu ta ăn quả.

Mô hình mới: Trồng dâu ta lấy quả, mỗi năm có 200 triệu đồng

Ông Quốc thu hái dâu trong vườn nhà. Ảnh: N.V

Bỏ tiêu trồng dâu

Sáng sớm mùa hè tháng 5 Quảng Trị đã nóng oi ả, ai nấy đều mệt mỏi. Thế nhưng khi chúng tôi ghé thăm, đứng giữa vườn dâu, gương mặt ông Trần Văn Quốc (59 tuổi) lại sáng lên niềm hạnh phúc.

Trong lúc vườn tiêu đang tàn lụi, ông Quốc lóe lên ý nghĩ trồng dâu ngâm rượu bán. Khi người dân quanh vùng đang cố gắng vực dậy vườn tiêu thì ông Quốc phá sạch, dành đất để đào hố, mua phân về trồng 1.000 gốc dâu trên diện tích 1ha vào năm 2008.

Sinh ra trên vùng đất đỏ bazan màu mỡ thôn Tân Phú, xã Cam Thành (Cam Lộ, Quảng Trị), trước đây ông Quốc là công nhân Nông trường Tân Lâm. Sau khi nông trường cổ phần hóa, ông Quốc vào Nam ra Bắc lăn lộn kiếm sống với nhiều công việc khác nhau. Cuối cùng ông quay về quê hương và dừng chân, đánh vật với vườn tược.

Nơi đây đất đỏ baza, hồ tiêu là loại cây được nhiều nông dân trồng. Ông Quốc cũng làm theo, nhưng ngày qua ngày vườn tiêu nhà ông mắc nhiều thứ bệnh. Dù đã dùng nhiều loại thuốc phòng trừ bệnh nhưng tiêu vẫn chết dần, chết mòn, năng suất giảm, thiệt hại cả trăm triệu đồng. Mất nguồn thu nhập chính, cuộc sống gia đình ông Quốc khốn đốn.

Thế rồi cơ duyên với cây dâu tằm đến với ông Quốc bất chợt. Ông kể, cách đây khoảng 30 năm, trong một lần ra thăm quê vợ ở Nghệ An, thấy có cây dâu tằm ra quả ngon nên ông xin vài nhánh về trồng chơi. Mang về đất Tân Phú trồng, dâu tằm hợp thổ nhưỡng, lớn nhanh, ra trái nhiều. Tìm hiểu sách báo, ông Quốc biết được trái dâu là phương thuốc nam rất tốt cho sức khỏe. Ông hái dâu đem ngâm rượu thì cho ra loại rượu thơm ngon, ai nấy đều khen. Trong lúc vườn tiêu đang tàn lụi, ông Quốc lóe lên ý nghĩ trồng dâu ngâm rượu bán. Năm 2008, khi người dân quanh vùng đang cố gắng vực dậy vườn tiêu thì ông Quốc phá sạch, dành đất để đào hố, mua phân về trồng 1.000 gốc dâu trên diện tích 1ha.

Thấy vậy, hàng xóm đặt cho ông cái tên Quốc gàn. Vợ ông thì suốt ngày khóc lóc van xin ông dừng làm vì sợ ôm cục nợ. Bà Hồ Thị Lan – vợ ông nhớ lại: “Lúc đó tôi như ngồi trên đống lửa. Con cái đang tuổi ăn học, điều kiện gia đình khó khăn, ông ấy làm liều lỡ không thành công, ôm cục nợ thì cả nhà chỉ có nước ra ở bờ ở bụi. Ngăn ông ấy không được nên tui đành đồng cam cộng khổ làm…”.

Nổi danh Quốc “dâu”

Là mô hình trồng trọt mới, nên ông Quốc phải tự mày mò trồng dâu theo hàng lối (tỷ lệ 3-3-3), cắt tỉa cẩn thận. Sau vài năm, ông thu hái lứa dâu đầu tiên đem ủ rượu. Do ông chưa biết kỹ thuật, rượu liên tục hỏng, lúc quá ngọt, lúc quá chua. Sau mỗi lần thất bại, ông Quốc tự rút ra kinh nghiệm  để đi đến thành công.

Bây giờ, 2.000 gốc dâu trong vườn của ông thu được 6 tấn quả tươi, nếu ngâm rượu sẽ cho ra 2.000 lít, còn bán quả tươi sẽ thu khoảng 300 triệu đồng (bình quân 50.000 đồng/kg quả tươi). Sau khi trừ chi phí, ông bỏ túi khoảng 200 triệu đồng. Ông Quốc dự định đến năm 2019 sẽ tăng diện tích lên 4ha, tương đương 4.000 gốc dâu và đăng kí thương hiệu, nhãn mác cho rượu dâu. Ngoài tạo việc làm cho các thành viên trong gia đình, ông Quốc còn thuê 4 lao động địa phương với lương 4,5 triệu đồng/tháng.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/mo-hinh-moi-trong-dau-ta-lay-qua-moi-nam-co-200-trieu-dong-5949d970e49519da358b456c.html