Monthly Archives: July 2017

Vi khuẩn có lợi là các tác nhân kiểm soát sinh học trong nuôi trồng thủy sản

Do bùng phát dịch bệnh được thừa nhận làm kìm hãm nghiêm trọng trong sản xuất và thương mại nuôi trồng thủy sản và khi sự phát triển của đề kháng kháng sinh đã trở thành mối quan tâm ngày càng tăng thì nhu cầu cấp thiết trong nuôi trồng thủy sản là phát triển các chiến lược kiểm soát vi khuẩn.

Vi khuẩn có lợi là các tác nhân kiểm soát sinh học trong nuôi trồng thủy sản

Một trong những lựa chọn thay thế cho kháng sinh trong kiểm soát dịch bệnh có thể là sử dụng các loài vi khuẩn có lợi probioticmen vi sinh ) như các tác nhân kiểm soát vi khuẩn.

Một định nghĩa mới về các loài vi khuẩn probiotics cũng dùng xử lý cho môi trường thủy sản được đưa ra với phần mô tả chi tiết căn cứ vào kiểu khả năng hoạt động của chúng như là sản sinh các hợp chất ức chế tác nhân gây bệnh

Cạnh tranh với các vi sinh vật có hại về dinh dưỡng và năng lượng, cạnh tranh với loài vi khuẩn có hại về các vị trí bám dính, tăng cường đáp ứng miễn dịch của động vật, cải thiện chất lượng nước và tương tác với thực vật phù du.

 

Một lý do cơ bản được đề xuất cho quá trình nhiều bước và đa ngành cần cho sự phát triển các loại men vi sinh hiệu quả và an toàn dành cho ứng dụng thương mại trong nuôi trồng thủy sản.

Dịch bệnh đang ngày càng được thừa nhận là một trở ngại đáng kể đối với sản xuất và thương mại trong nuôi trồng thủy sản tác động đến sự phát triển kinh tế ngành ở nhiều quốc gia.

Ví dụ như hiện nay dịch bệnh được coi là yếu tố hạn chế ngành nuôi tôm. Từ trước đến nay, các phương pháp theo tập quán như sử dụng các chất khử trùng và các loại thuốc kháng sinh đã có thành công hạn chế trong việc phòng ngừa hoặc chữa trị bệnh thủy sản.

Hơn nữa là mối quan tâm ngày càng tăng về việc sử dụng và đặc biệt là lạm dụng thuốc kháng sinh không chỉ trong dược phẩm cho người và sản xuất nông nghiệp mà còn trong nuôi trồng thủy sản.

Sử dụng số lượng lớn kháng sinh để kiểm soát bệnh và kích thích tăng trưởng ở động vật làm tăng áp lực chọn lọc tác động lên thế giới vi sinh vật và kích khích sự nổi lên tự nhiên của vi khuẩn kháng thuốc (Tờ Thông tin 194 Tổ chức Y tế Thế giới về đề kháng kháng khuẩn, http://www.who.int/inf-fs/en/fact194.html).

Vi khuẩn kháng thuốc không chỉ có thể sinh sôi nảy nở sau khi một loại kháng sinh đã diệt được một loài vi khuẩn khác, mà còn có thể chuyển gen kháng của chúng đến các vi khuẩn khác chưa từng bao giờ tiếp xúc với kháng sinh.

Sử dụng cận điều trị (điều trị dự phòng) bằng kháng sinh liên quan đến những loại đã sử dụng trong dược phẩm cho người hoặc sử dụng bất kỳ tác nhân kháng khuẩn nào được biết đến để chọn kháng chéo với kháng sinh được sử dụng trong dược phẩm cho người có thể gây nguy hiểm đặc biệt nghiêm trọng đối với sức khỏe con người.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/vi-khuan-co-loi-la-cac-tac-nhan-kiem-soat-sinh-hoc-trong-nuoi-trong-thuy-san-36675.html

Các chỉ tiêu chọn lựa Probiotics (men vi sinh, men tiêu hóa) sử dụng trong nuôi tôm

-Trung Tâm Quốc Gia về Thông tin Công nghệ Sinh học, Thư viện Y Quốc gia Mỹ

Các chỉ tiêu chọn lựa Probiotics (men vi sinh, men tiêu hóa) sử dụng trong nuôi tôm

Sàng lọc động vật khỏe mạnh trong thời kỳ dịch bệnh bùng phát —-> Phân lập các dòng vi khuẩn

I. Đánh giá in vitro về tiềm năng của dòng vi khuẩn có lợi probiotic ( men vi sinh, men tiêu hóa )

Sản xuất các hợp chất ức chếKháng sinh

Bacteriocins

Siderophores

Monostatin

Lyzozymes

Proteases

Hydrogen peroxide

Axit hữu cơ

Cạnh tranh về dinh dưỡngSắt

Chất hữu cơ

Các yếu tốđề kháng Các yếu tố bám dínhCạnh tranh về dinh dưỡng

 II. Đánh giá in vitro các tác động có lợi đến vật chủ

Khả năng xâm chiếm

Mô bệnh học

Tăng cường đáp ứng miễn dịch

Cải thiện chất lượng nước

Tác động đến mức tăng trưởng và tỉ lệ sống

Các thử nghiệm thí điểm so sánh

—->  Cảm nhiễm thực nghiệm kháng lại các dòng gây bệnh

—–> Dòng vi khuẩn có lợi Probiotic ( men vi sinh,men tiêu hóa )

Đánh giá kinh tế

Thủ tục đăng ký

—-> Sản phẩm thương mại

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cac-chi-tieu-chon-lua-probiotics-men-vi-sinh-men-tieu-hoa-su-dung-trong-nuoi-tom-36682.html

Lưu ý khi nuôi tôm ở độ mặn thấp

So với tôm sú thì tôm thẻ chân trắng (TTCT) là đối tượng nuôi ở độ mặn thấp phù hợp hơn, bởi TTCT chịu đựng độ mặn thấp tốt hơn tôm sú; ngoài ra TTCT còn sinh trưởng nhanh hơn, thời gian nuôi ngắn và nuôi được ở mật độ cao. Khi nuôi TTCT ở độ mặn thấp chỉ nên thả mật độ vừa phải (80 – 100 con/m2).

Lưu ý khi nuôi tôm ở độ mặn thấp

Hạ độ mặn

Thường tôm được sản xuất từ trại giống nước có độ mặn trên 20‰. Do vậy, khi mua giống về cần hạ độ mặn tại trại giống xuống từ từ để tránh gây sốc cho tôm (3 giờ hạ một lần, mỗi lần hạ không quá 2‰). Trong tháng nuôi đầu tiên, độ mặn thả nuôi không nên thấp hơn 7 – 8‰ nhằm giảm tối đa việc gây sốc tôm.

Tháng thứ 2, nên châm thêm nước ngọt vào ao để hạ độ mặn ao nuôi xuống dần nhưng không dưới 5‰.

Không nên trực tiếp lấy nước từ kênh mương vào ao nuôi. Người nuôi cần chuẩn bị ao lắng diện tích chiếm 15 – 20% và độ sâu tối thiểu 1,5 mét, để có đủ nước cấp cho ao nuôi. Nước phải để lắng và được xử lý ít nhất 6 ngày trước khi cấp vào ao nuôi.

Nước ở tầng đáy trong ao nuôi cần thải bớt ra ngoài khi màu nước ao nuôi trở nên đậm đặc. Trong giai đoạn tôm giống P12 cỡ 15g, nếu độ mặn thấp hơn 5‰ thì tôm dễ bị còi cọc, mềm vỏ, tỷ lệ sống thấp.

Sử dụng chế phẩm sinh học hợp lý khi nuôi tôm ở độ mặn thấp

Quản lý tảo

Từ tháng thứ 2 trở đi, khi hàm lượng dinh dưỡng trong ao lớn, cần lưu ý sự phát triển của tảo, nhất là tảo lam (Cyanophyta).

Khi tảo phát triển quá mức làm nước trở nên xanh đậm đặc hoặc có váng xanh trên mặt nước sẽ nâng pH lên cao và biến động lớn, vậy cần kiểm soát mật độ tảo trong ao vừa phải bằng cách thay bớt nước tầng đáy (tháo qua cánh phai của cống thoát) và châm thêm nước mới (mỗi lầng 7 – 10%) từ ao lắng.

Giá trị pH trong ngày chỉ nên 7,8 – 8,3, thấp vào buổi sáng, cao vào buổi chiều; độ kiềm cũng không nên vượt quá 150 mg/l, vì nếu pH và độ kiềm vượt ngưỡng thì ion Ca++ sẽ tích lũy nhiều trong vỏ làm cho tôm còi cọc và khó lột xác. Nên sử dụng vôi Dolomite hoặc Ca(OH)2 để tăng pH khi trời mưa, pH xuống thấp.

Quản lý, chăm sóc

Trong quá trình nuôi, đặc biệt với TTCT, do độ mặn thấp, trong nước các ion Ca++, Mg++, Na+, K+… sẽ thấp nên quá trình lột xác xảy ra không đồng đều, tôm sẽ bị mềm vỏ sau khi lột xác, dễ bị tôm khác tấn công, ăn thịt, tỷ lệ hao hụt cao. Vậy cần bổ sung định kỳ hàm lượng khoáng vào ao nuôi và trộn vitamintrong thức ăn của tôm với liều lượng 60 mg/kg thức ăn cho ăn hằng ngày.

Nên sử dụng men tiêu hóa trong toàn vụ nuôi, cần chú trọng cho ăn men tiêu hóa có chứa thêm enzyme Phytase, vì với Phytase nó có thể giúp việc tiêu thụ thức ăn tốt hơn, ít ô nhiễm môi trường hơn và giảm được chi phí.

Ao nuôi ở độ mặn thấp, nước ao thường dễ bị đục sau khi thả tôm hoặc sau khi thay nước, làm cho tôm bị sẫm màu hoặc đỏ thau vào buổi sáng. Do vậy người nuôi cần phải xử lý sớm khi ao bị mất màu và trước khi tôm bỏ ăn.

Để giảm độ đục, nên tắt máy quạt nước vào ban ngày để lắng bớt chất gây đục nước và cho tảo nổi lên, sau đó tháo bớt nước đáy ao để loại bỏ chất lắng đọng.

Nếu sau khi tắt máy quạt, nước để lắng rồi tháo đáy mà vẫn còn đục thì phải can thiệp thêm chất keo tụ (như zeolite và yucca) để kết tủa huyền phù, rồi xả đáy, sau đó châm nước mới vào ao.

Khí độc trong ao

Sang tháng nuôi thứ 2, lượng chất thải tôm bắt đầu tăng cao; quá trình bài tiết của tôm và phân hủy mùn bã hữu cơ sẽ sinh ra nhiều khí độc trong ao nuôi (như H2S, NH3, NO2…) gây độc cho tôm. Do vậy cần phải xiphông và thay nước tầng đáy, đồng thời bón chế phẩm vi sinh để chuyển hóa khí độc, tạo điều kiện cho tôm phát triển tốt.

TTCT được nuôi ở độ mặn thấp (5 – 15‰) sẽ tăng trưởng nhanh hơn ở độ mặn cao.

Đó là do ở độ mặn thấp sự trao đổi chất (protein) trong cơ thể tôm tốt hơn và khi độ mặn thấp thì tôm bị bắt buộc sử dụng tổng acid amin tự do (free amino acid pool) để bù vào sự thay đổi thể tích tế bào.

Hiện nay, nhiều hộ nuôi đã sử dụng nước ngọt từ giếng khoan để pha làm giảm độ mặn.

Nước giếng khoan có hàm lượng DO thấp và ion Mn, Fe cao (thường ở dạng khử). Nếu sử dụng pha trực tiếp vào ao tôm thì kết tủa của các muối kim loại  sẽ bám vào mang tôm, gây stress hoặc gây chết tôm.

Tuy nhiên, nếu nước giếng khoan sau khi bơm được sục khí mạnh, những kim loại Mn, Fe sẽ bị ôxy hóa thành MnO2 và Fe(OH)3 kết tủa, không gây hại cho tôm.

Trong nước biển tự nhiên, tỷ lệ Ca/Mg thường là 1/3,4 và ở nước giếng khoan tỷ lệ này là 10/1. Sự không cân bằng này có thể ảnh hưởng đến sự điều hòa thẩm thấu và là nguyên nhân gây ra hội chứng co cơ ở tôm.

> Ở độ mặn thấp, các yếu tố thủy hóa biến động mạnh, thiếu nhiều khoáng chất, cần điều chỉnh kịp thời trong quá trình nuôi tôm.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/luu-y-khi-nuoi-tom-o-do-man-thap-36691.html

Độc tính nitrit bị tác động bởi tính nhạy cảm của loài và các điều kiện môi trường

Phơi nhiễm với nitrit gây ra các tổn thương mang, phù nề ở cơ xương cá và cũng ảnh hưởng đến hô hấp.

Độc tính nitrit bị tác động bởi tính nhạy cảm của loài và các điều kiện môi trường

Nồng độ nitrit bị tác động bởi mức oxy hòa tan và chloride trong nước, cũng như sự khác biệt giữa các loài về tính nhạy cảm với nitrit. Cá bị bệnh máu nâu sẽ nhanh chóng phục hồi khi được chuyển sang nước có nồng độ nitrit thấp.

Mặc dù tương đối phổ biến trong các hệ thống nước ngọt, độc tính nitrite ít gây ra vấn đề trong các hệ thống nuôi nước lợ và nước biển.

Tiến sĩ Claude E. Boyd

Khoa Thủy sản và Liên minh nuôi trồng thủy sản, Đại học Auburn, Auburn, Alabama 36849 USA

Nitrit là một hợp chất trung gian trong quá trình oxy hóa nitơ amoniac thành nitrate bởi vi khuẩn nitrat trong đất và nước.

Nó cũng có thể là một sản phẩm của vi khuẩn khử Nitơ ở lớp trầm tích kỵ khí hoặc trong nước. Nitrit cuối cùng bị oxy hóa thành nitrate khi có oxy hòa tan. Tuy nhiên, các hệ thống nuôi trồng thủy sản thường có nồng độ nitrit thấp dưới 0,1 mg/L và ở các điều kiện nhất định thì sẽ có nồng độ cao hơn nhiều.

Nitrat là dạng nitơ vô cơ trong nước bị oxy hóa nhiều nhất – không có độc tính cao đối với động vật thủy sinh.

Nồng độ nitrat-nitơ gây chết 50% sinh vật thí nghiệm trong 96 giờ (LC50 96 giờ) điển hình là trên 100 mg/L đối với các loài sinh vật nước ngọt và hơn 500 mg/L đối với các loài sinh vật biển. Mặt khác, nitrite độc hơn nhiều.

Phơi nhiễm với nitrit gây ra các tổn thương mang và phù nề ở cơ xương cá, nhưng tác động chính của nó là đến hô hấp.

Khi đã bị hấp thụ vào máu, nitrit kết hợp với hemoglobin – hoặc hemocyanin ở loài không xương sống – để tạo thành methemoglobin hoặc met-hemocyanin không kết hợp với oxy.

Tỷ lệ phần trăm methmoglobin hoặc met-hemocyanin trong máu của động vật thủy sinh tăng lên khi nồng độ nitrite trong máu tăng lên, do đó làm máu giảm khả năng vận chuyển oxy đến các mô. Tác động của nitrit đến hô hấp đặc biệt rõ rệt khi nồng độ oxy hòa tan trong nước ao nuôi thấp.

Các tác động của chloride

Nồng độ chloride trong nước cũng tác động lớn đến sự hấp thu nitrit trong môi trường qua mang và vào máu của động vật thủy sinh – đặc biệt là động vật nước ngọt.

Ion chloride có cùng điện tích và kích thước tương đương với ion nitrit.

Do sự tương đồng này, chloride cạnh tranh với nitrit về các vị trí hút bám trên cơ chế chất mang chủ động chịu trách nhiệm vận chuyển nitrit trong môi trường qua lá mang vào máu.

Bằng cách chặn sự hấp thu nitrit bởi chất mang, chloride làm giảm số lượng nitrit chuyển từ nước vào máu của động vật thủy sinh ở một nồng độ nitrit nitơ đặc biệt, do đó làm giảm nguy cơ của độc tính nitrit.

Độc tính nitrit

Có một lượng lớn thông tin về độc tính của nitrite đối với cá, tôm và các sinh vật thủy sinh khác.

LC50 96 giờ (gây chết 50% sinh vật thí nghiệm trong 96 giờ) của nitrit nitơ điển hình trong khoảng 10,00 – 30,00 mg/L trên các loài không xương sống nước ngọt và 0,25 – 100,00 mg/L trên cá.

Phạm vi tương ứng trên các loài sinh vật biển điển hình trong khoảng 10 – 300 mg/L và 100 – 1,000 mg/L.

LC50 96 giờ đối với một số loài động vật thủy sinh được thể hiện ở Bảng 1.

Bảng 1. LC50 96 giờ của nitrit nitơ đối với một số loài động vật thủy sinh đã công bố.

Tên thông thường

LC50 96 giờ

Nước ngọt

Cá chépCá Catla

Cua Mitten Trung Quốc

Cua càng nhỏ

Tôm nước ngọt

Cá hồi Cutthroat

Cá da trơn

Cá tuế Fathead

Cá rô phi xanh

Cá vược miệng rộng

Cá hồi cầu vồng

88,0 mg/L

117,0 mg/L

25,9 mg/L

29,4 mg/L

8,6 mg/L

0,5-0,6 mg/L

7,1-44,0 mg/L

45,0-70,0 mg/L

16,0 mg/L

140,0 mg/L

0,24-11,0 mg/L

Nước biển

Cua biểnCá vược

Cá chình châu Âu

Tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương

Tôm sú

Cá hồi biển

41,6-69,9 mg/L

154,0-274,0 mg/L

84,0-974,0 mg/L

9,0-322,0 mg/L

13,6 mg/L

980,0 mg/L

Một số khác nhau về độc tính liên quan đến sự khác biệt loài trong tính nhạy cảm với nitrit.

Ví dụ, LC50 96 giờ đối với tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương ở độ mặn 35 ppt là 322,0 mg/L, trong khi ở độ mặn như nhau thì đối với tôm sú chỉ là 14,0 mg/L. Ở nồng độ chloride 22,0 mg/L, LC50 96 giờ của cá da trơn là 7,5 mg/L, trong khi đối với tuế Fathead là 70,0 mg/L.

Các ảnh hưởng của chất lượng nước

Đa phần sự khác nhau về số liệu từ các thí nghiệm độc tính là do những khác biệt trong điều kiện chất lượng nước mà động vật khi phơi nhiễm với nitrit. LC50 có xu hướng giảm khi nhiệt độ tăng.

Ví dụ, trong một nghiên cứu với cá chẽm, LC50 giảm từ 274 mg/L ở 17 °C xuống 154 mg/L ở 27 °C.

Mối liên quan này không đáng ngạc nhiên, bởi vì ở nhiệt độ cao hơn, sinh vật cần oxy nhiều hơn và nitrit gây trở ngại cho sự vận chuyển oxy trong máu.

Độ mặn cũng ảnh hưởng đến độc tính của nitrit. LC50 96 giờ của nitrit nitơ đối với cá chình châu Âu tăng từ 84 mg/L ở nước ngọt lên 974 mg/L ở nước có độ mặn 36 ppt.

Ở tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương, LC50 tăng từ 61 mg/L ở độ mặn 15 ppt lên 322 mg/L ở độ mặn 35 ppt. Không nghi ngờ gì về ảnh hưởng này là do sự gia tăng nồng độ chloride để đáp ứng với độ mặn cao hơn và giúp bảo vệ chống lại độc tính nitrit.

Các loài nước lạnh nhạy cảm với nitrit nhiều hơn là các loài nước ấm. Ví dụ, LC50 đối với cá hồi vân thấp hơn cá da trơn bốn lần hoặc hơn nữa.

Do có nhiều yếu tố khác nhau tác động nên khó giải thích về các giá trị LC50 từ thí nghiệm độc tính nitrit đối với các loài thủy sản nuôi.

Hơn nữa, người nuôi thủy sản muốn tránh các tác động xấu của nitrit đến mức tăng trưởng và độ nhạy cảm với bệnh gia tăng xảy ra ở các nồng độ thấp hơn nhiều so với LC50.

Nồng độ an toàn khi phơi nhiễm liên tục với nitrite và các chất độc phổ biến khác đối với động vật thủy sinh thường được ước tính là 0,05 hoặc 0,10 của LC50 96 giờ.

Dựa trên LC50 đã báo cáo, nồng độ an toàn của nitơ nitrit ở nước ngọt trong khoảng 0,0125 – 0,5000 mg/L đối với cá nước lạnh và 0,5000 – 2,5000 mg/L đối với các loài không xương sống và cá nước ấm.

Đối với các loài sinh vật biển, khoảng nồng độ an toàn cao hơn là 0,5 – 15,0 mg/L đối với các loài không xương sống và 5,0 – 50,0 mg/L với cá.

Bệnh máu nâu

Độc tính nitrit không phải là một vấn đề phổ biến trong các hệ thống nuôi nước lợ và nước biển, nhưng tương đối phổ biến ở nước ngọt.

Một triệu chứng của độc tính nitrit có thể dễ dàng nhận ra là máu của cá hoặc tôm sẽ có màu nâu là do nồng độ methemoglobin hoặc met-hemocyanin trong máu tăng.

Bởi thế nhiễm độc nitrit thường được gọi là bệnh máu nâu.

Mức độ nghiêm trọng của bệnh máu nâu thay đổi tùy theo nồng độ nitrit, nồng độ hòa tan oxy và các yếu tố khác. Một điều thú vị cần lưu ý là cá bị bệnh máu nâu nhanh chóng hồi phục khi được chuyển sang nước có nồng độ nitrit thấp.

Kiểm soát

Nồng độ oxy hòa tan dưới 3 mg/L đối với các loài nước ấm và dưới 5 mg/L đối với các loài nước lạnh kích thích quá trình oxy hóa nitrit thành nitrat trong nước và tại bề mặt giữa nước và trầm tích đáy.

Chúng cũng tạo ra một biên độ an toàn cho các loài động vật do nitrit gây căng thẳng dễ bị tổn thương hơn với các mức oxy hòa tan thấp.

Mỗi năm người nuôi cá da trơn ở Mỹ thường sử dụng sodium chloride (natri clorua) để duy trì nồng độ chloride trong ao là 50-100 mg/L nhằm tránh bệnh máu nâu.

Quy trình này đem lại hiệu quả cao và có thể được sử dụng trong nuôi trồng các loại thủy sản nước ngọt khác.

Tương đối dễ dàng để đo nitrit và có thể đạt được kết quả khá chính xác với bộ dụng cụ thí nghiệm không đắt tiền.

Trong nuôi trồng thủy sản nước ngọt, khi đo thấy nồng độ nitrit cao trong nước ao hoặc các hệ thống nuôi khác người quản lý ao có thể dùng natri clorua để tăng nồng độ chloride.

Nồng độ chloride gấp 20 lần nồng độ nitơ nitrit sẽ hoàn toàn trung hòa độc tính nitrit ở cá da trơn và có lẽ ở hầu hết các loài nước ngọt khác.

Xử lý bằng sodium chloride (natri clorua) dường như không khả thi ở nuôi trồng thủy sản nước lợ và nước biển.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/doc-tinh-nitrit-bi-tac-dong-boi-tinh-nhay-cam-cua-loai-va-cac-dieu-kien-moi-truong-36697.html

Làm giảm ô nhiễm ao nuôi tôm

Chọn công nghệ

Để hạn chế ô nhiễm trong ao nuôi đối với những địa phương có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng…, người nuôi có thể chọn công nghệ nuôi truyền thống phù hợp, gồm các loại hình: nuôi tôm sinh thái, nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến.

Làm giảm ô nhiễm ao nuôi tôm

Những loại hình nuôi này thường sử dụng thức ăn tự nhiên là chính, hoặc bổ sung một lượng nhỏ thức ăn.

Vừa hạn chế được ô nhiễm nước vừa có giá bán cao khi thu hoạch, phù hợp khả năng đầu tư của đa số hộ dân.

Đối với những doanh nghiệp nuôi và người dân có kinh nghiệm, có điều kiện kinh tế, có thể chọn những công nghệ nuôi tiên tiến, như: nuôi trải bạt nền đáy, nuôi tôm trong nhà kính, Biofloc, lọc tuần hoàn…

Những công nghệ này đều có điểm chung là vốn đầu tư lớn, tôm được thả nuôi với mật độ cao, các yếu tố môi trường được khống chế, hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng của bên ngoài đến ao nuôi, tạo điều kiện thuận lợi cho tôm sinh trưởng và phát triển tốt.

Ưu điểm của việc sử dụng các công nghệ này là chất thải của tôm trong quá trình nuôi được xử lý triệt để, không ảnh hưởng đến môi trường nước ao nuôi và xung quanh.

Cải tạo ao

Là khâu kỹ thuật quan trọng, góp phần hạn chế được nguồn ô nhiễm tiềm ẩn ao nuôi cả về môi trường và dịch bệnh. Do vậy trong quá trình cải tạo cần thực hiện các khâu kỹ thuật sau:

Thiết kế ao lắng, chiếm 10 – 15% diện tích ao nuôi. Ao là nơi lắng lọc và sử dụng hóa chất để xử lý nước trước khi cấp nước vào ao, đảm bảo nước khi được cấp vào ao phải trong, sạch và không có vi khuẩn gây bệnh.

Đối với ao mới đào, cần sử dụng vôi nông nghiệp CaO để trung hòa pH và tiêu diệt mầm bệnh, với liều lượng 12 – 15 kg/100 m2.

Vôi được rải đều trên bờ và đáy ao, dùng máy lồng cho vôi và bùn đáy ao lẫn vào nhau, ngâm nước sâu 5 cm từ 5 đến 7 ngày, sau đó bơm cạn, phơi đáy và lấy nước vào ao.

Ao đã nuôi được nhiều vụ cần sên vét hết lớp bùn đen ở đáy ao, dùng vôi rải xuống ao với liều lượng 10 – 12 kg/100 m2. Sau đó nên san phẳng nền đáy, hơi dốc về cống thoát, phơi ao 5 – 7 ngày.

Nếu người dân hoặc doanh nghiệp nuôi tôm có khả năng đầu tư, có thể trải bạt nền đáy hoặc bờ ao để hạn chế ô nhiễm từ đáy ao và thuận lợi cho việc định kỳ hằng tuần xi phông chất thải ra bên ngoài.

Chất lượng giống, mật độ thả

Chất lượng tôm giống có thể quyết định đến 60% tỷ lệ thành công. Để ao nuôi không bị ô nhiễm bởi dịch bệnh do giống kém chất lượng gây ra, người nuôi phải làm tốt khâu chọn giống ngay từ đầu. Giống nên được kiểm dịch bởi cơ quan có thẩm quyền và được cung cấp bởi những công ty có uy tín.

Thực tế nuôi tôm hiện nay, ngoài một số cá nhân và doanh nghiệp có khả năng đầu tư nuôi quy mô lớn, còn lại hầu hết đều các hộ nuôi nhỏ lẻ, khả năng đầu tư thấp.

Theo khuyến cáo của các chuyên gia, để nuôi tôm theo hướng bền vững, giảm thiểu ô nhiễm nước ao, người nuôi nên thả với mật độ vừa phải, tôm sú (10 – 20 con/m2), tôm thẻ chân trắng (40 – 60 con/m2).

Quản lý môi trường

Từ lúc cải tạo ao đến khi thả giống và thu hoạch, việc quản lý môi trường nước ao luôn được chú trọng và theo dõi chặt chẽ. Nên áp dụng quy trình kỹ thuật nuôi tôm sạch, hạn chế sử dụng hóa chất để xử lý môi trường ao nuôi.

Quản lý tốt sự phát triển của tảo trong ao nuôi, tránh hiện tượng tảo tàn, gây ô nhiễm nước ao.

Tăng cường sử dụng chế phẩm sinh học ( men vi sinh ) định kỳ để chuyển hóa các chất gây ô nhiễm thành dạng không độc hại, đồng thời phát triển các vi khuẩn có lợi cạnh tranh nơi sống và thức ăn của vi khuẩn có hại, khống chế không cho chúng bùng phát gây ô nhiễm, dịch bệnh cho ao nuôi.

Đối với nuôi tôm mật độ cao, lượng chất thải lớn, sinh ra nhiều khí độc trong nước; do vậy cần lắp đặt các dàn quạt lông nhím để hàm lượng ôxy từ không khí được cung cấp xuống tận đáy ao, giúp các phản ứng hóa học và quá trình phân hủy hiếu khí của vi khuẩn diễn ra thuận lợi hơn.

Thức ăn và cho ăn

Để tôm nuôi hấp thụ được tối đa lượng dinh dưỡng trong thức ăn, cần chọn loại thức ăn có chất lượng, phù hợp loài nuôi và với từng giai đoạn phát triển của tôm.

Tránh hiện tượng thức ăn kém chất lượng, chẳng những tôm hấp thu không hết chất dinh dưỡng trong thức ăn mà lượng chất thải ra nhiều hơn, làm tăng ô nhiễm nước ao.

Cùng với lựa chọn thức ăn tốt, việc cho tôm ăn đủ không những hạn chế được ô nhiễm của lượng thức ăn thừa gây ra mà còn tiết kiệm được chi phí trong nuôi tôm.

Cho tôm ăn cần tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật, đồng thời nên dựa theo sức ăn thực tế và những lần lột xác của tôm để có sự điều chỉnh hợp lý.

Nuôi ghép với loài khác

Để hạn chế chất thải trong quá trình nuôi tôm gây ô nhiễm môi trường nước ao, ngoài các biện pháp kể trên, hộ nuôi có thể sử dụng các mô hình nuôi ghép tôm với các loài khác (như cá rô phi, cá đối, cá dìa, rong câu, ốc hương…).

Mục đích dùng các loài nuôi ghép sử dụng lượng chất thải mà tôm thải ra làm thức ăn, hạn chế ô nhiễm môi trường nước ao, đồng thời tăng sản phẩm thu hoạch mỗi vụ nuôi.

Chọn loại hình nuôi hợp lý, cải tạo, quản lý môi trường ao nuôi tốt, sử dụng thức ăn phù hợp và nuôi ghép với những loài khác là những biện pháp cơ bản làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường ao nuôi tôm.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/lam-giam-o-nhiem-ao-nuoi-tom-36704.html

Ương nuôi tôm để quản lý EMS

Mật độ thả cao và không thay nước được áp dụng trong các hệ thống này đòi hỏi công nghệ cao hơn, cơ sở hạ tầng tốt hơn, tăng cường an toàn sinh học, kiểm soát và thiết bị dụng cụ hỗ trợ.

Ương nuôi tôm để quản lý EMS

Cần thiết phải có các hệ thống lọc, hệ thống thông khí hiệu suất cao, chất lượng nước tốt, sử dụng các loài vi sinh vật, siphon hút bùn, kiểm soát nhiệt độ, kết cấu nhà kính và thức ăn tốt hơn – tất cả với mục tiêu tạo ra một môi trường ổn định cho con giống khỏe mạnh.

Người quản lý các trại ương phải có kinh nghiệm sản xuất giống để có thể duy trì mức độ kiểm soát cần thiết.

Việc sử dụng các chế phẩm vi sinh (probiotic), vi sinh vật có lợi cho sức khỏe là một thành phần quan trọng trong các hệ thống này. Cách thức dùng các loại chế phẩm vi sinh khác nhau phải được điều chỉnh theo sinh khối, chất lượng nước và sức khỏe của tôm giống.

Thức ăn sử dụng trong các hệ thống này phải đạt chất lượng thức ăn cho tôm giống. Việc cố sử dụng thức ăn cho nuôi tăng trưởng ảnh hưởng đến chất lượng nước và về sau phát sinh các vấn đề vi khuẩn học có thể dẫn đến năng suất sản lượng kém và con giống yếu.

Các nhà quản lý các hệ thống này phải có thiết bị và chuyên môn để chuyển tôm giống từ các trại ương sang các ao nuôi tăng trưởng một cách thích hợp.

Tôm giống phải khỏe mạnh trước khi chuyển sang ao nuôi, nếu không có thể mất hết kết quả thu được ở trại ương

. Mới đầu việc sang chuyển ao được thực hiện ở một khoảng cách ngắn.

Ngày nay việc sử dụng máy bơm được thiết kế đặc biệt giúp giảm căng thẳng và tỉ lệ chết, việc sang chuyển có thể thực hiện được ở khoảng cách lên đến hai cây số.

Xu hướng hiện nay là áp dụng mật độ thấp hơn trong các trại ương để sản xuất cỡ giống thả lớn hơn.

Ở Mexico, tác động của hội chứng tôm chết sớm / hoại tử gan tụy cấp tính (EMS/AHPN) rất nghiêm trọng. Sản xuất giảm khoảng 50% trong năm 2013.

Theo một nhà cung cấp hàng đầu về thiết bị chuyên dùng và thức ăn cho nuôi trồng thủy sản – Proaqua Mexico đưa tin, không có báo cáo nào về dịch bệnh EMS ở các trại ương, tuy nhiên, tỷ lệ chết đã xảy ra sau khi chuyển tôm sang thả ở các ao nuôi tăng trưởng.

Một số trang trại đã thả tôm ương ở mức trung bình 1,5 con/lít trong 55 ngày và đạt cỡ 4.5 gram với tỉ lệ sống là 80%.

Khi nuôi trong ao nuôi tăng trưởng với mật độ trung bình 6,5 con/m2 trong vòng 30 ngày thì tôm đạt cỡ 16 – 18 gram. Tôm thu hoạch có hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) trung bình là 0,6 và tỉ lệ sống trung bình là 85%.

Các trang trại đã thực hiện phương pháp này để có được bốn vụ một năm, năng suất hơn 3.000 kg/ha trong suốt năm 2013 với số ngày nuôi ít hơn và hệ số FCR thấp hơn.

Nhiều nỗ lực để chuyển giao khái niệm ương nuôi này sang các quốc gia ở Đông Nam Á đã đem lại các kết quả khác nhau. Người nuôi đã cố gắng xây dựng ao ương ngay tại các trang trại nuôi, nhưng không đảm bảo an toàn sinh học, thiếu các thiết bị công cụ và công nghệ nên đã gặp phải các vấn đề về kích cỡ khác nhau, tỉ lệ sống và việc sang chuyển.

Nhiều ý tưởng để lựa chọn đã được đưa ra ở Đông Nam Á.

Thả giống trong các lồng cách khỏi đáy ao trong vòng 30 ngày đã tránh bùng phát EMS. Ngoài ra, tách riêng bằng lưới để nuôi ương tôm nhỏ trong phạm vi 20 – 30 % diện tích ao và sau 20 đến 30 ngày thì thả tôm ra đã được báo cáo là có ích lợi.

Một kinh nghiệm thành công với việc thực hiện các trại ương đã được báo cáo ở Malaysia với năng suất sản lượng tốt, chuyển thành công tôm giống sang ao nuôi tăng trưởng và thu hoạch thành công trong vụ nuôi ngắn hơn.

Vẫn còn khả năng để cải thiện năng suất bằng cách điều chỉnh chế độ cho ăn, cách thức / quy trình xử lý vi sinh và các điều kiện nhiệt độ để đạt được trọng lượng tốt hơn trong các trại ương.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/uong-nuoi-tom-de-quan-ly-ems-36711.html

Lưu ý nuôi tôm nước lợ mùa nắng nóng

Dễ làm biến động môi trường

Theo Chi cục Thủy sản tỉnh Tiền Giang, tình trạng nắng nóng kéo dài trong những ngày vừa qua làm môi trường ao nuôi tôm nước lợ dễ biến đổi đột ngột, nhất là yếu tố pH và nhiệt độ nước;

Lưu ý nuôi tôm nước lợ mùa nắng nóng

Từ đó, làm tôm nuôi bị sốc môi trường, sức khỏe yếu và rất dễ bùng phát dịch bệnh.

Nắng nóng còn làm nước ao tôm bốc hơi nhanh, độ mặn trong ao cũng tăng theo, tôm dễ phát sinh bệnh hoại tử gan tụy.

Bên cạnh đó, nắng nóng cùng với độ mặn tăng cao làm các loại cây cỏ thủy sinh trong ao tôm bị chết và phân hủy nhanh là nguồn dinh dưỡng cho tảo phát triển mạnh, kéo theo sự biến đổi về độ trong của nước trong ao.

Tảo xuất hiện với mật độ dày cũng là nguyên nhân gây ra hiện tượng tôm nổi đầu vào buổi sáng do thiếu ôxy, nếu nặng sẽ chết hàng loạt.

Nước trong vuông nuôi cạn cũng là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi pH của môi trường nuôi tôm.

Đối với những vùng đất có nhiều phèn thì pH sẽ xuống thấp do phèn từ trong đất của nền đáy ao và bờ bao xì ra ao tôm.

Những yếu tố môi trường ao nuôi tôm càng thay đổi đột ngột hơn khi xuất hiện những cơn mưa trái vụ hay mưa đầu mùa với lưu lượng nước lớn.

Khi đó, nước mưa sẽ cuốn trôi phèn từ bờ ao xuống ao nuôi tôm làm pH giảm thấp, nhiệt độ phân tầng, dẫn đến hiện tượng tôm yếu bị chết đột ngột, mất khả năng đề kháng và dễ mắc bệnh.

Tuân thủ quy tắc quản lý ao tôm

Trong nuôi tôm, việc quản lý tốt các yếu tố môi trường nước trong vuông là rất quan trọng. Nếu giữ được sự ổn định các yếu tố nhiệt độ, độ mặn, pH, độ kiềm, ôxy hòa tan… trong ngưỡng thích hợp sẽ giúp tôm phát triển tốt.

Do đó phải thường xuyên kiểm tra các yếu tố môi trường và theo dõi hoạt động của tôm.

Người nuôi cần xây dựng ao lắng riêng, chủ động được nguồn nước và xử lý nước trước khi lấy vào ao nhằm tạo các yếu tố môi trường thuận lợi nhất cho sự phát triển của tôm cũng như hạn chế mầm bệnh từ bên ngoài.

Đồng thời, cần chủ động duy trì mực nước trong ao (trên 1,2 m) để hạn chế ảnh hưởng bất lợi của tình trạng nắng nóng.

Thường xuyên kiểm tra, gia cố bờ bao sau mỗi vụ nuôi để tránh tình trạng nước rò rỉ từ ngoài vào hay từ ao này sang ao khác.

Nếu nước trong ao tôm có màu đậm, pH cao cần lập tức tiến hành thay 20% lượng nước hoặc cấp thêm nước vào ao nuôi thông qua ao lắng.

Vào mùa nắng nóng, đôi khi xuất hiện mưa trái mùa làm môi trường nước biến động, cần theo dõi, quản lý ao nuôi, đề phòng tôm bị sốc, ảnh hưởng đến hoạt động sống. Khi thấy có dấu hiệu mưa, cần rải vôi xung quanh ao tôm với liều lượng 10 – 15 kg/100 m2 để hạn chế phèn rửa trôi xuống ao nuôi.

Bên cạnh đó, nắng nóng thường làm độ mặn tăng cao, độ trong thấp, rong tảo phát triển nhiều, pH dao động trong ngày lớn, ôxy giảm thấp vào ban đêm… dẫn đến tôm chậm lớn, bị đỏ thân do thiếu ôxy…

Nếu có điều kiện, cần cấp nước để bù vào lượng nước bốc hơi. Nên cấp nước từ từ, khoảng 20 – 30% lượng nước trong ao, cấp vào lúc trời mát, khoảng sau 19 giờ đêm, cấp nước cần qua ao lắng và xử lý.

Nên sử dụng chế phẩm sinh học (men vi sinh) định kỳ giúp ổn định môi trường, hạn chế khí độc trong ao nuôi.

Sau những trận mưa, người nuôi phải kiểm tra các yếu tố môi trường trong vuông nuôi, để có những biện pháp khắc phục kịp thời, xả bớt lớp nước mặt, hay dùng quạt, xuồng máy chạy đảo trong vuông để phá vỡ sự phân tầng nhiệt độ nước.

Ngoài ra, nên thả nuôi tôm với mật độ vừa phải để dễ quản lý.

Trong suốt quá trình nuôi, cũng nên ghi sổ nhật ký theo dõi các hoạt động hàng ngày để thuận tiện cho việc quản lý sức khỏe tôm nuôi, cũng như phục vụ truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/luu-y-nuoi-tom-nuoc-lo-mua-nang-nong-36718.html

Sử dụng chế phẩm vi sinh hiệu quả

Bản chất của CPVS

Là các chế phẩm có nguồn gốc từ vi sinh vật hữu ích, được tạo ra bằng con đường sinh học, rất đa dạng với nhiều tên thương mại khác nhau. Chúng gồm hai loại: loại xử lý môi trường và loại trộn vào thức ăn.

Sử dụng chế phẩm vi sinh hiệu quả

Thành phần của CPVS rất đa dạng, có thể chứa chỉ một loài hay rất nhiều loài vi khuẩn, có thể bổ sung thêm các men phân giải hữu cơ, các vitamin hay các chất chiết xuất sinh học… CPVS thường được tạo nên từ 3 thành phần:

– Các chủng vi khuẩn có lợi, có thể tham gia sử dụng và phân hủy các hợp chất hữu cơ như: Bacillus sp., Nitrobacter sp., Nitrosomonas sp., Clostridium sp, Cellulomonas sp, Lactobacillus sp, L.acidophillus, L.casei, L.rhamnosus, L.bulgaricus, Streptococcus sp., Sacharomyces sp

– Các loại enzyme hữu cơ, xúc tác cho quá trình phân hủy của các vi sinh vật như: Protease, Lypase, Amyllase, Chitinnase…

– Các chất dinh dưỡng sinh học để kích hoạt sinh trưởng ban đầu hệ vi khuẩn có lợi.

Công dụng của CPVS

CPVS được sử dụng để phân hủy các hợp chất hữu cơ như thức ăn thừa, phân tôm, xác chết của tảo và sinh vật trong ao…, làm cho đáy ao và chất lượng nước tốt hơn, hạn chế ô nhiễm nước.

Các vi khuẩn có trong CPVS sẽ chuyển hóa các khí độc trong nước thành dạng không độc (như vi khuẩn  Nitrosomonas spp chuyển hóa NH3 thành NO2 và Nitrobacter spp; chuyển hóa NO2 thành NO3, Rhodobacter spp; và Rhodococcus spp có khả năng làm giảm H2S trong bùn đáy ao…).

Ngoài ra, sự phát triển mạnh của các vi khuẩn có lợi sẽ cạnh tranh, chiếm chỗ và át chế sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh.

CPVS còn có thể ổn định sự phát triển của tảo từ các sản phẩm như CO2 và các loại muối dinh dưỡng thông qua hoạt động phân hủy của các vi khuẩn, đồng thời kìm hãm tảo đáy phát triển.

CPVS trộn vào thức ăn, khi vào cơ thể tôm, thúc đẩy quá trình tiêu hóa thức ăn, giúp tôm hấp thụ tối đa thức ăn, đồng thời phát triển mạnh hạn chế sự phát triển của vi khuẩn có hại trong đường ruột.

Cách sử dụng hiệu quả

Để sử dụng hiệu quả CPVS trong nuôi tôm, cần phải thực hiện các biện pháp sau:

Do vòng đời của vi khuẩn trong chế phẩm vi sinh ngắn (7 – 10 ngày) nên muốn duy trì được hệ vi khuẩn có lợi trong ao nuôi để kìm hãm vi khuẩn gây bệnh chuyển hóa khí độc và phân hủy mùn bã hữu cơ thì phải bón CPVS định kỳ cho ao nuôi (7 – 12 ngày/lần).

Cần ổn định các yếu tố môi trường để tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn trong CPVS sinh trưởng, sinh sản và phát triển.

Tùy theo thành phần CPVS mà hoạt động sống, sinh sản của chúng chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường (nhiệt độ, độ mặn, pH, ánh sáng, hóa chất, kháng sinh).

Nhiệt độ càng cao (trong khoảng thích hợp) thì tốc độ phân hủy của vi sinh càng nhanh

. Nhiệt độ thích hợp của hầu hết các vi sinh vật từ 26 – 300C, khi nhiệt độ hạ (< 180C) tỷ lệ sinh trưởng sẽ giảm 50%. Nitrosomonas và Nitrobacter là hai vi khuẩn mẫn cảm ánh sáng, đặc biệt ánh sáng màu xanh dương và tím.

Độ pH thích hợp cho Nitrosomonas từ 7,8 – 8 và Nitrobacter 7,3 – 7,5. Nitrobacter sẽ tăng trưởng chậm hơn ở pH cao tại các ao nuôi có độ mặn cao.

Cần chọn loại CPVS có tính năng phù hợp mục đích sử dụng, như CPVS chứa vi khuẩn BacillusPseudomonas tham gia chuyển hóa các chất hữu cơ thành CO2 và nước, nhóm Nitrosomonas và Nitrobacter chuyển các chất độc hại như NH3, NO2 thành chất không độc NO3-.

Vi khuẩn Nitrosomonas thường sống ở bùn đáy ao và chỉ tồn tại được một thời gian ngắn trong nước nhờ chất dự trữ trong tế bào, khi chất này hết chúng sẽ chết.

Đa số các nhóm vi khuẩn trong CPVS khi bón vào nước đều chịu ảnh hưởng bởi ôxy hòa tan, do vậy cần cung cấp đủ và duy trì hàm lượng ôxy trong nước (> 4mg/l) giúp chúng sinh trưởng và phát triển tốt.

Không nên bón CPVS khi đang dùng hóa chất (BKC, thuốc tím, Chlorine, Iodine…) khử trùng nước và không trộn men vi sinh cho tôm ăn khi đang điều trị bằng thuốc kháng sinh, bởi các hóa chất và kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn làm giảm hiệu quả của CPVS.

>> Cơ chế tác động vi sinh vật của CPVS trong ao nuôi tôm được thể hiện như sau:

Sản sinh ra vi khuẩn có lợi ức chế vi khuẩn có hại, cạnh tranh chất sắt, thức ăn và nơi cư trú với vi khuẩn có hại. Tăng cường các phản ứng miễn dịch đối với tôm nuôi, ổn định sự phát triển của tảo và cải thiện chất lượng nước.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/su-dung-che-pham-vi-sinh-hieu-qua-36725.html

Kiểm soát vi khuẩn trong nuôi tôm – Phần 1

Hệ thống nuôi trồng loài Artemina có thể là nguồn lây nhiễm vi khuẩn chính.Việc thu hẹp phạm vi từ thay đổi thành phần loài vi khuẩn cho đến việc khử khuẩn để diệt phẩy khuẩn.

Kiểm soát vi khuẩn trong nuôi tôm - Phần 1

Có lẽ vấn đề ảnh hưởng đến các trại giống nhiều nhất là tỷ lệ chết cao của tôm khi nuôi tôm ở giai đoạn đầu.Thuật ngữ “hội chứng zoeae” được đặt ra để mô tả giai đoạn nhiễm bệnh của ấu trùng.

Thông thường, các loài động vật không lột xác từ giai đoạn zoeae 1 lên zoeae 2, thì khả năng tử vong rất cao.

Các dạng vi khuẩn phẩy đều được đề cập đến trong quá trình này.

Khó khăn cho người quản lý ương tôm là phải xác định được lỗ hỏng an toàn sinh học và làm thế nào để áp dụng nó mà không cần tạo ra một môi trường sản xuất đã được sử dụng nhằm chỉ ra các vấn đề khác có thể dễ dàng xảy ra.

Mục đích là để kiểm soát vi khuẩn mà không tạo ra khe hở cho mầm bệnh xen vào.

Vi khuẩn phổ biến

Điều quan trọng là phải hiểu rằng vi khuẩn có mặt khắp nơi.

Chúng ta có thể sống hay không tất cả đều phụ thuộc vào chúng.Vi khuẩn rất quan trọng cho việc cân bằng sinh thái và tái chế chất dinh dưỡng, chúng có vô số vai trò quan trọng khác mà chúng ta chỉ mới bắt đầu hiểu được.

Đa số các loài vi khuẩn đều thuộc dạng lành tính, trong khi một số có thể tác động tiêu cực đến các loài động vật dễ bị ảnh hưởng bởi chúng vì nhiều lý do, trong đó sự ảnh hưởng của trạng thái căng thẳng thường là yếu tố quan trọng.

Chỉ có một số rất ít mầm bệnh là tác nhân gây bệnh chính trên động vật.Hầu hết các vấn đề ảnh hưởng đến trại giống  xuất phát từ các loài vi khuẩn không phải là tác nhân gây bệnh cơ hội.

Việc nhận ra đã chú ý quá nhiều vào phẩy khuẩn trong khi nhiều loài vi khuẩn khác vẫn có thể( và làm) gây ra những vấn đề nguy hại khác cũng quan trọng.

Không nên tập trung vào việc loại bỏ toàn bộ vi khuẩn mà thay vào đó nên nhắm vào các khu vực sản xuất nơi có thể giảm thiểu toàn bộ vi khuẩn.

Kết nối các giai đoạn sản xuất

Như với bất kỳ quy trình nông nghiệp nào, giai đoạn sản xuất trong việc nuôi trồng thủy sản được liên kết và nối lại với nhau.

Cá giống được bán với số lượng rất lớn về mặt thương mại đã trở thành nguồn trứng và con nâu,và lần lượt chúng lại được bán để trở thành nguồn dự trữ hậu ấu trùng tôm cho hệ thống sản xuất nuôi thịt theo quy mô thương mại.

Đàn bố mẹ đến từ nhiều nguồn khác nhau.Đa số – đặc biệt là loài tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương – đến từ các công ty kinh doanh thương mại bán các loài động vật được chọn di truyền, thường là loại tôm sạch mầm bệnh, những tác nhân gây bệnh đặc trưng đã được Tổ chức Thú y Thế giới đề cập tới thì không nên xuất hiện.

Nguồn lấy tôm sú thì như nhau,dù vậy cách sử dụng đàn bố mẹ hoang dã cần được lưu ý khi nuôi tại các trại tôm sú.

Qui trình thông thường cho cơ sở nuôi tôm trưởng thành

Việc sử dụng động vật không mầm bệnh đã có tác động lớn đến nghề nuôi tôm trên toàn cầu, mặc dù đôi lúc đó không phải là nguồn giải quyết mọi vấn đề như ta tưởng.

Có nhiều lý do cho việc này.Bất kể nguồn gốc của các loài động vật, cơ sở nuôi động vật trưởng thành thì tất cả vẫn làm những điều giống nhau.

Bên cạnh nỗ lực giảm thiểu lượng vi khuẩn vào các hệ thống nuôi loài trưởng thành, nên tập trung vào việc kiểm soát nguy cơ lây truyền theo chiều ngang trong suốt quá trình sản xuất.

Lấy đẻ trứng hàng loạt là định mức, ví dụ, sinh sản cá nhân cung cấp kiểm soát tốt hơn.

Khi con cái đẻ trứng, việc vi khuẩn bám vào nó và xuất hiện ở chất lỏng trong buồng trứng và phân là con đường dễ dàng cho vi khuẩn bám lên bề mặt trứng.

Con cái nên được rửa sạch trong khoảng thời gian ngắn bằng chất khử trùng như dung dịch formalin trước khi đưa vào bể đẻ nhằm giảm lượng vi khuẩn bên ngoài.

Sau khi sinh con cái nên được chuyển ra bể đẻ càng sớm càng tốt – điều đó sẽ rất dễ dàng khi động vật được sinh ra riêng lẻ.

Nên đi thu gom trứng và rửa bằng nước sạch nhiều lần và bằng dung dịch khử trùng có thể dùng dung dịch formalin,dung dịch sát trùng idophor hoặc các hợp chất khác mà trước đó đã cho thấy hiệu quả trong việc làm giảm lượng vi khuẩn kèm theo.

Sau khi trứng nở thành ấu trùng, ấu trùng khỏe mạnh sẽ được thu gom bởi tính thích ánh sáng của chúng và thả vào trong bể ấp.Trước khi cho vào bể, ấu trùng nên được rửa sạch theo cách giống như khi khử trùng bề mặt trứng.

Những quy định này được đặt ra nhằm làm giảm lượng vi khuẩn bám trên bề mặt ngoài.

Không được loại bỏ vi khuẩn có trong trứng theo cách này.

Nếu xác định đây là mối quan ngại, thì đàn bố mẹ nên được điều trị trong hệ thống sản xuất sạch bằng thuốc kháng sinh thích hợp và khi cho ăn thức ăn không được có mầm bệnh.

Sự lây nhiễm

Giả sử nước trong hệ thống sản xuất được xử lý đúng cách và đã sử dụng cách quản lý lượng vi khuẩn trong bể sản xuất có hiệu quả, thì có lẽ nguồn lây nhiễm nhiều nhất từ vi khuẩn trong giai đoạn đầu là hệ thống nuôi ấu trùng Artemia và hệ thống nuôi tảo.

Có nhiều cách để giảm thiểu sự lây nhiễm này,từ việc thay đổi cách sử dụng vi khuẩn cho đến việc sử dụng các chất hóa học như dung dịch formalin hay hóa chất khử trùng diệt khuẩn Cloramine-T để diệt bất kỳ vi khuẩn phẩy nào bám trên bề mặt và việc xảy ra lây nhiễm qua đường không khí là kết quả của nơi và cách sản xuất ấu trùng Artemia.

Ngoài ra, ấu trùng Nauplii Artemia có thể được thu gom và khử trùng bề mặt như tôm. Việc sử dụng nhiều nước sạch là điều cần thiết để tiêu diệt vi khuẩn yếu.

Tảo thường bị vi khuẩn lây nhiễm bệnh.

Có thể giảm thiểu điều đó bằng cách sử dụng hệ thống sản xuất khép kín

.Nơi mà vi khuẩn không thể xâm nhập vào,việc thay đổi thành phần loài vi khuẩn sẽ có thể làm giảm toàn bộ lượng vi khuẩn không lành tính.

Sự nhìn xa

Việc kiểm tra nguồn vào trong giai đoạn trưởng thành và giai đoạn đầu là rất quan trọng khi nuôi ấu trùng vì nó đảm bảo các tác nhân gây bệnh đã được kiểm soát.

Khi động vật lột xác, sẽ có nhiều loại thức ăn được cho vào bể nuôi, chính vì vậy vi khuẩn sẽ theo đó mà lớn lên.

Một lần nữa, việc sử dụng cách thức thay đổi thành phần loài vi khuẩn bằng phương pháp vi sinh có thể giúp kiểm soát phẩy khuẩn trong suốt quá trình này. Điều cuối cùng được đề cập tới trong quá trình này là việc dự trữ hậu ấu trùng trong ao.

Có thể sử dụng một số phương pháp khử trùng trứng và ấu trùng nauplii để làm giảm lượng vi khuẩn kèm theo.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/kiem-soat-vi-khuan-trong-nuoi-tom-phan-1-32519.html

Nuôi tôm tăng trưởng nhanh và lớn hơn nhờ ăn chất thải từ nhím biển

Nhờ việc sử dụng nhím biển và tôm như loài làm mẫu, các nhà khoa học UAB khám phá ra rằng loài này có thể nuôi loài khác từ chất thải của mình mà không cần sử dụng các loại thực phẩm truyền thống.

Nuôi tôm tăng trưởng nhanh và lớn hơn nhờ ăn chất thải từ nhím biển

Tiến sĩ Steve Watts, nổi tiếng với các món ăn từ nhím biển do chính ông tự chế biến đã khiến ông được mọi người biết đến trên kênh du lịch về thức ăn lạ ở Mỹ, chương trình này được Andrew Zimmern phụ trách.

Watts và nhóm của ông từ trường Cao đẳng Nghệ thuật và Khoa Sinh học Khoa học bắt đầu dự án này sau nhiều năm nghiên cứu truyền thống động vật dưới nước kết hợp với khoa học và y học tiên tiến.

Watts nói “trong những năm qua, chúng tôi nhận thấy rằng một số động vật chúng tôi nghiên cứu là loài thí nghiệm tuyệt vời đối với lĩnh vực y học,”

. “Hầu hết trong số chúng là những loài thí nghiệm y sinh hữu ích, và chúng tôi có thể nghiên cứu nhiều bệnh và vấn đề liên quan đến sức khỏe con người, do đó nghiên cứu của chúng tôi thực sự gồm hai phần.

Chúng tôi nghiên cứu những loài này đối với ngành nuôi trồng thủy sản và y sinh.

“Trong nghiên cứu trước đây của mình về nhím biển, Watts phát hiện ra rằng loài này có khả năng hỗ trợ loài khác, điều này thôi thúc mối quan tâm của ông để tìm hiểu khả năng đó.

“Trong một số trường hợp, chúng tôi nuôi tôm với nhím biển cùng với nhau và chúng tôi nhận thấy rằng tôm có xu hướng tụ tập nhím biển và tiêu thụ các viên chất thải từ nhím biển,” Watts nói.

“Giống như có tính hiệp trợ ở đây.”

Trong phòng thí nghiệm của Watts, các nhà nghiên cứu nuôi nhím biển và đặt chúng vào một hệ thống nuôi ghép, trong đó loài này nuôi loài khác.

Trong trường hợp này, tôm sống ở dưới nhím biển, nhím biển nuôi tôm qua việc thả viên chất thải để tôm ăn và phát triển mà không cần thức ăn truyền thống.

Theo nghiên cứu của Watts, các viên thải của nhím biển có đầy đủ các chất dinh dưỡng và vi khuẩn lành mạnh giúp tôm tăng trưởng nhanh và lớn hơn khi cho tôm ăn thức ăn riêng.

Phát hiện này có tiềm năng mang lại tác động tích cực trong nhiều lĩnh vực.

“Về cơ bản, đó là một bước đột phá trong khoa học nuôi ghép; nhưng những ảnh hưởng tích cực này cũng có thể được nhìn thấy trong các ngành công nghiệp nuôi thủy sản và người mua chúng cho các nhà hàng, “Watts nói.

“Chi phí tiết kiệm được có thể rất đáng kể từ việc giảm bớt hoặc loại bỏ nhu cầu thực phẩm truyền thống.

“Tôm nuôi là một phần quan trọng trong ngành nuôi trồng thủy sản và công nghiệp nhà hàng. Trên thế giới, tôm được nuôi trong ao hơn là ở đại dương vì lợi ích ẩm thực. Để nâng cao sản lượng tôm cho thị trường, nông dân thường phải mua thức ăn đắt tiền.

Hệ thống của Watts loại bỏ đi yếu tố chi phí. “Khi bạn có nhím biển thì bạn sẽ không cần thức ăn nuôi tôm,” Watts nói. “Những gì chúng tôi nhận thấy là tôm phát triển nhanh khi chỉ tiêu thụ viên nhím – chúng lớn nhanh và khỏe mạnh.

Trong nhiều trường hợp, tốc độ tăng trưởng của chúng vượt trội hơn những con tôm được cho ăn các thức ăn đắt tiền.

“Hơn nữa, các đầu bếp như Chris Hastings của Birmingham, đầu bếp và chủ sở hữu câu lạc bộ Hot and Hot Fish và Ovenbird mới mở nổi tiếng trên thế giới, có thể tự mình cung cấp thức ăn nhờ hệ thống mới này.

Watts và nhóm nghiên cứu của ông đã mang tôm của họ đến câu lạc bộ Hot and Hot Fish của Hasting cho một cuộc thử nghiệm hương vị

. Hastings cho biết “nếu bạn nuôi tôm trong ao chứ không phải trong một vòng khép kín có thực phẩm hữu cơ như ở môi trường sạch sẽ thì vị của nó gần giống loại tôm này- Hương vị, kết cấu, tất cả mọi thứ về tôm của bạn là đẳng cấp thế giới “.

“Và bạn có biết nó có ý nghĩa gì đối với tôi với tư cách là bếp trưởng không?

Điều này có nghĩa là tôi biết tôi có hy vọng và cơ hội để đạt được những gì tôi mơ ước trong nấu ăn, “Hastings phát biểu.

“Bạn không thể đạt được những ước mơ ấy với ít hơn một sản phẩm hoàn hảo.

“Watts và nhóm của ông thực hiện theo mong muốn của Hasting nhằm tạo ra một hệ thống môi trường bền vững vì sự nuôi trồng nhiều loài.

“Với số người trên thế giới ngày càng tăng và nhu cầu protein, nuôi trồng thủy sản sẽ là cơ chế duy nhất mà chúng ta có thể tăng cường sản xuất protein cá,” Watts nói.

“Đó là mọi thứ chúng ta có.””Nuôi trồng thủy sản mang lại cho chúng ta một phương pháp mới tạo ra protein mà chúng ta đã không sử dụng đầy đủ,” Karen Jensen, một sinh viên thạc sĩ trong phòng thí nghiệm Watts cho biết.

“Những loài này sử dụng ít năng lượng hơn, chẳng hạn một con bò hoặc một con gà được nuôi đến lúc trưởng thành toàn diện sẽ cung cấp cho chúng ta nguồn dinh dưỡng tuyệt vời.”

Với rất nhiều lợi ích của hệ thống này trong đầu, Watts và nhóm của ông sẽ tiếp tục nghiên cứu về mối quan hệ nuôi ghép và những loài khác nhằm mang lại số lượng thủy sản nhiều hơn đến thị trường.

Biên dịch: www.2lua.vn

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nuoi-tom-tang-truong-nhanh-va-lon-hon-nho-an-chat-thai-tu-nhim-bien-32588.html