Monthly Archives: September 2017

Cách Chọn Tôm Sú Giống Tốt và Cách Xử Lý Khi Tôm Bị Bệnh

1/ Cách Chọn Tôm Sú Giống Tốt

Chuyên trang đồng bằng sông Cửu Long có nhận được thư của ông Trần Văn Phú (xã Vĩnh Tiến – Vĩnh Châu – Sóc Trăng), ông Trần Mạnh Giỏi (xã An Minh Bắc – huyện An Minh – Kiên Giang), ông Lê Hoài Vọng (Thạnh Phú – Bến Tre), chị Trần Thị Diệu (thị trấn Mỹ Long – Cầu Ngang – Trà Vinh). Bà con hỏi: Làm thế nào để biết con tôm sú giống tốt? Xin trả lời:

Cách Chọn Tôm Sú Giống Tốt

Với những “đại gia” nuôi tôm công nghiệp (như Công ty SEACO Sóc Trăng của anh em ông Lưu Thống Nhứt với cả ngàn hécta mặt nước) thì họ đầu tư rất nhiều công sức, tiền bạc cho việc chọn lựa tôm sú giống, từ lấy vài chục mẫu ở các cơ sở nổi tiếng, gởi cơ quan chuyên môn kiểm định nghiêm ngặt đến đặt hàng, tổ chức vận chuyển về điểm nuôi v.v… Riêng bà con nuôi qui mô nhỏ (dù mô hình công nghiệp hay quảng canh, tôm-lúa…) ít điều kiện hơn có thể làm theo cách sau để tìm mua tôm sú giống đáng tin cậy hầu giảm rủi ro. tag: máy sục khí o2-turbine

1- Tuyệt đối không mua tôm giống trôi nổi của những người không có giấy phép hành nghề cung cấp tôm sú giống. Không mua tôm sú giống của những điểm cung cấp có giấy phép nhưng “lô hàng” đang chào bán lại không chứng minh được đã qua sự kiểm dịch và đồng ý cho phân phối của cơ quan chuyên môn.

2- Quan sát thấy tôm sú giống tỏ ra linh hoạt, khỏe mạnh, phân bổ đều trong bể nuôi, hình dáng thon dài, ruột đầy thức ăn (khả năng bắt mồi tốt), tỉ lệ tòe đầu nhỏ hơn 10%. 3- Kiểm tra khả năng thích nghi trong môi trường thay đổi nồng độ mặn bằng cách thả một ít tôm giống vào nước đã giảm một nửa độ mặn thông thường. Sau 1-2 giờ nếu thấy số tôm giống bị “sốc” chết chỉ chiếm từ 0 – 10% (tốt), 11-35% (khá), trên 35% là tôm giống không tốt.

Đối với tôm giống kém chất lượng, nhiều nơi thương lái đưa ra “chiêu”: cho nợ 50% tới khi thu hoạch mới thanh toán dứt điểm. Xin bà con đừng ham rẻ vì công sức, tiền của bỏ ra lớn nhưng kết quả rất có thể là trắng tay, hoặc chỉ vừa đủ trả 50% tiền nợ còn lại! Tôm chết rồi, thương lái có nhiều lý do đổ thừa mà cách dễ nhất là đổ thừa cho… ông Trời: “Thời tiết không thuận lợi”.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cach-chon-tom-su-giong-tot-3935.html

2/ Cách Xử Lý Khi Tôm Bị Bệnh

Cải tạo môi trường ao nuôi tốt hơn:

Kiểm tra và cải tạo môi trường ao nuôi để giảm mức độ thiệt hại xảy ra. Bao gồm các bước sau :

Cách Xử Lý Khi Tôm Bị Bệnh

– Quản lý việc cho tôm ăn thật chặt chẽ, khi tôm bệnh khả năng bắt mồi giảm do vậy việc cho ăn phải hết sức thận trọng, tránh dư thừa thức ăn dễ dẫn đến vấn đề thêm nghiêm trọng.

– Tăng cường thay nước nếu thấy cần thiết, lưu ý phải kiểm tra tình hình dịch bệnh đốm trắng, đầu vàng ở thời điểm đó và sự phù hợp của việc thay nước để quyết định.

– Thực hiện nghiêm ngặt qui trình sử dụng hóa chất và Probiotic.

Sử dụng kháng sinh :

Việc sử dụng kháng sinh đạt được kết quả chỉ khi nào ta phát hiện và xác định chính xác kịp thời. Phải xử lý ở giai đoạn tôm chưa có biểu hiện triệu chứng nhiễm bệnh mặc dù kiểm tra số lượng nhiễm khuẩn ở gan đã nhiều hơn mức cho phép. Ở giai đoạn này tôm trong ao vẫn ăn mồi tốt, do vậy việc xử lý đạt kết quả cao.

– Kháng sinh được sử dụng rộng rãi cho kết quả tốt là: Nhóm quinolone như : Oxolomic acid, Norfloxacin, Enrofloxacin (Nhóm quinolone đã bị cấm sử dụng); kháng sinh thuốc nhóm sulfamid : Sulfadimidin, Trimethoprim, Methoxazon.

– Thời gian sử dụng liên tục 3-5 ngày, mỗi ngày 3 lần, mỗi lần cách nhau 8 giờ. Lưu ý phải bao thức ăn đã có thuốc bằng chất kết dính, tránh thuốc bị hòa tan và khuếch tán trong nước. (trong trường hợp này không nên dùng dầu gan mực sẽ gây khó tiêu hóa cho tôm). tag: may suc khi o2-turbine

Sử dụng Probiotic :

Sau 5 ngày sử dụng kháng sinh bắt buộc phải sử dụng ngay các chế phẩm sinh học để phục hồi lại hệ vi sinh vật đường ruột cho tôm.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cach-xu-ly-khi-tom-bi-benh-3943.html

Kỹ Thuật Nuôi Tôm Sinh Thái (Rừng – Tôm) Kết Hợp

Do trong quá trình nuôi tôm thải ra các chất hữu cơ với thời gian khá dài (gần 10 tháng) vì vậy chúng ta cần phải sên vét lớp bùn dưới đáy ao để tránh hiện tượng dơ đáy và phát sinh các khí độc như: NH3, H2S… đồng thời tạo nên lớp đất mới cho tảo và các sinh vật phát triển nhằm làm giàu dinh dưỡng trong ao và tạo thức ăn cho tôm

Kỹ Thuật Nuôi Tôm Sinh Thái (Rừng - Tôm) Kết Hợp

1Cách thức sên vuông:+ Vét lớp bùn dưới đáy ao với bề sâu khoảng 20cm – 30cm  tránh vét quá sâu vì vùng đất ngập mặn có tầng phèn tiềm tàng hoạt động nằm cách mặt đất chỉ khoảng 50Cm.
+  Trong quá trình sên khi vét đến 1/3 chiều dài vuông ta sẽ vét sâu khoảng 40 – 60 Cm so với đáy ao với chiều dài khoảng 30-60m tùy theo chiều dài vuông tôm dài hay ngắn (Nếu trường hợp vuông tôm quá dài thì ta vét sâu 40cm – 60cm ở khoảng 1/3 vuông tôm và ở 2/3 vuông tôm), đồng thời vét sâu 40cm ở các góc ao. (Nhằm tạo nơi cư trú cho tôm khi ta xổ vuông đến cạn nước). + Trường hợp vuông quá cạn thì ta phải đưa cơ giới (xáng) vào cải tạo ao nuôi.

2. Xử lý nước: Sau khi sên vét đáy ao xong thì phèn, chất cặn bã… tích tụ ở đáy ao khá nhiều mà những chất này rất có hại đối với tôm trong quá trình nuôi. Vì vậy chúng ta cần phải xử lý nước cho đúng phương pháp nhằm làm sạch đáy ao như sau:
+ Đối với trường hợp sên vuông cạn dưới 30Cm bằng tay thì ta chỉ cần tháo nước ra vô nhiều lần cho đến khi đáy ao sạch nhằm tạo lớp phù sa bồi lắng để hạn chế và ngăn ngừa việc xì phèn từ đáy ao đồng thời tạo môi trường nước trong ao tốt và phù hợp cho tôm sinh trưởng và phát triển.
+ Trong trường hợp vuông được cải tạo sâu > 40Cm bằng tay hoặc cơ giới (xáng) thì ngoài việc tháo nước ra vô nhiều lần ta còn phải kết hợp sử dụng vôi CaCO3 với liều lượng 15-20 kg/1000m3 nước và trong những cơn mưa đầu mùa thì ta bón 15-20Kg/1000m2 bờ bao nhằm tránh hiện tượng trôi phèn xuống ao làm giảm pH trong ao nuôi tôm.
Phương pháp lấy nước: Để rửa sạch phèn và các chất cặn bã dưới đáy ao sau khi sên hay trong khi nuôi tôm ta cần phải tạo dòng chảy trong ao cho thật mạnh trong vuông tôm bằng cách để cho mực nước bên ngoài vuông tôm cao hơn mực nước bên trong vuông tôm từ (7 tấc) 70cm – 1m thì ta mới tháo hết cống (giật hết bửng 1 lần) không hạ (xuống) Lú cho nước tống thật mạnh vào ao cho đến khi nước chảy giảm mạnh thì ta mới hạ(xuống) Lú. Khi xả nước ra ta chỉ việc xả bình thường đồng thời hạ (xuống) Lú để thu hoạch tôm. tag: máy sục khí o2-turbine

3. Diệt cá tạp: 1. Tùy trường hợp trong vuông có nhiều cá dữ hay không mà ta diệt cá bằng các hình thức sau: Sử dụng thuốc cá dây (không sử dụng saponin) với liều lượng 5-7kg/1000m3 nước (phải biết rỏ nguồn gốc dây thuốc cá), hoặc diệt cá bằng cách như: Câu, giăng lưới… Nên giữ lại các loài cá: Đối, Phi, Nâu… để làm sạch môi trường nước đồng thời có thêm thu nhập phụ.

4. Chọn giống: Chọn những con giống khoẻ không nhiễm Virut từ các trại sản xuất có uy tín. Tốt nhất nên thả tôm cỡ PL12- PL15. Phương pháp chọn giống như sau:

– Phương pháp cảm quan: Tôm giống khoẻ có màu sắc trong sáng, không thương tích, đều cỡ, hoạt động nhanh nhẹn. Kích cỡ nhỏ nhất trên 1,2cm. Tôm bột đạt 15 ngày tuổi thường được gọi là PL15. Tôm  thon, dài, đuôi xoè hình quạt khi lội  râu khép  hình chữ V. Có thể đánh giá sức khoẻ tôm bằng cách dùng thau nước cho tôm vào, quay tròn nước, tôm khoẻ sẽ bám vào thành thau, lội ngược dòng nước; tôm yếu sẽ bị gom vào giữa thau, khi gõ nhẹ vào thành thau, tôm khoẻ sẽ phản ứng búng nhảy nhanh; ngoài ra có thể kiểm tra bằng “sốc” độ mặn.

– Phương pháp gây sốc bằng độ mặn: Lấy 100 con tôm giống và nước ở trại giống cho vào ½ ly nước và cho nước ngọt vào ½ ly nước còn lại để thời gian 45 phút – 1 giờ. Nếu tôm chết dưới 5 con thì có thể chọn giống đó về thả nuôi.
v Thả và luyện giống:
Luyện giống:
Điều quan trọng là chất lượng nước ở trong ao và nước trong túi đựng con giống phải gần giống nhau về độ mặn, nhiệt độ, độ PH,… Thông thường thì nước trong bao tôm và nước sẽ chênh lệch nhâu rất nhiều về nhiệt độ, độ măn, độ pH… Tốt nhất là trước khi thả giống xuống vuông tôm ta phải thuần độ mặn.

– Phương pháp thuần (độ mặn, pH, nhiệt độ…)  tại nhà: Cho tất cả tôm và nước trong bao tôm vào thùng nhựa 60 lít sau đó ta lấy nước trong vuông tôm đổ (5 phút đổ 1 lít) vào thùng nhựa có chứa tôm giống, hoặc dùng bọc nước treo trên miệng thùng và cho nước chảy từ từ vào thùng. Đến khi nào nước đầy thùng thì ta có thể tiến hành thả tôm xuống ao nuôi tôm.

+ Ví dụ: vào mùa mưa đem 10 bao tôm giống về ta cho vào thùng 60 lít đồng thời lấy 40 lít nước trong vuông cho vào thùng 60 lít đang chứa tôm giống ( 5 phút đổ 1 lít) đến khi hết 40 lít nước trong vuông thì ta có thể tiến hành thả tôm xuống vuông.
Vào mùa nắng ta chỉ cần áp dụng phương pháp 1:1 ( trong bao tôm có bao nhiêu lít nước thì ta cho bấy nhiêu lít nước trong vuông tôm vào thùng thuần tôm). – Nếu tôm không có thuần (độ mặn, pH, nhiệt độ…) tại nhà thì khi đem giống về đến vuông nuôi tôm phải tiến hành thuần nhiệt độ bằng cách thả bao tôm giống xuống vuông khoảng 20-30 phút trước khi mở miệng bao.

Thả giống: Nên thả tôm trên gió, tốt nhất là thả tôm ở khoảng ½ chiều dài vuông tôm cho đến hậu vuông (để tránh lúc xả nước tôm giống bị cuốn trôi ra khỏi ao), thả lúc sáng sớm hoặc chiều tối ( không thả tôm giống lúc trời mưa lớn).

Khuyến cáo: Nên thả giống 1 tháng 1 lần (số lượng giống nhiều ít tùy theo diện tích vuông của mỗi gia đình) để chúng ta có thể thu hoạch tôm được quanh vụ.
2.     Quản lý môi trường trong vuông tôm: Do hình thức nuôi tôm của ta là nuôi quảng canh rừng tôm kết hợp nên rất khó để quản lý các yếu tố như: Độ kiềm, oxy hòa tan, nhiệt độ, khí độc NH3 và H2S… vì vậy ta chỉ có thể quản lý được các yếu tố như: pH, độ trong và màu nước.

Trong vuông tôm là điều kiện tốt cho các loài vi sinh vật và tảo phát triển, vì vậy tùy theo loài tảo nào chiếm đa số thì sẽ làm cho màu nước khác nhau và cũng làm ảnh hưởng khác nhau đến tôm nuôi:

+ Nước màu vàng nâu: Chủ yếu là tảo khuê gây ra, đây là tảo làm thức ăn tốt cho tôm.
+ Nước màu xanh nhạt: do các loài tảo lục gây nên đây cũng là thức ăn tốt cho tôm

+ Nước màu xanh đậm: do tảo lam gây ra, loại tảo này không tốt cho tôm sinh trưởng (tôm chậm lớn) và gây nên hiện tượng tôm có màu xanh. (Xử lý bằng cách thay 30-50% nước trong ao)
+ Nước có màu nâu đen: Do tảo giáp gây ra. Tảo này có thể làm cho môi trường nhiễm bẩn, rất có hại đối với tôm nuôi. (xả nước ra vô liên tục để làm sạch môi trường kết hợp với dùng vợt vớt các Lap Lap trong ao đem lên bờ).

+ Nước màu vàng: Do tảo vàng gây nên, làm cho môi trường thiếu dinh dưỡng nên tôm sẽ chậm lớn và tỷ lệ sống thấp. (Xử lý bằng cách thay 30-50% nước trong ao và bón vôi CaCO3 với liều lượng 15- 20kg/1000m3 nước)
+ Nước trong suốt hoặc có màu vàng rỉ sét: Do đất phèn tạo thành nên pH rất thấp. Tảo ít phát triển, tôm thiếu thức ăn, chậm lớn và tỷ lệ sống thấp. (Dùng phương pháp thay nước ra vô liên tục để rữa phèn và chứa nước trong vuông thật cao để tảo phát triển) Để ổn định chất lượng nước trong ao tôm tao cần phải chú ý đến nguồn nước lấy vào, không lấy nước vào ao khi nước ngoài kênh (sông) quá “cáu đục”, phải xả nước mặt trong vuông tôm đồng thời bón vôi CaCO3 15-20kg/1000m2 trên bờ bao vào những lúc trời mưa lớn. Tốt nhất nên sử dụng vôi CaCO3 với liều lượng 15- 20kg/1000m3 sau khi kết thúc đợt thu hoạch nhằm diệt tạp, khử trùng, kích thích tảo phát triển và để tránh tôm có thể bị sốc do pH thay đổi.

3.     Quản lý thức ăn trong vuông tôm: Do ta nuôi dưới hình thức rừng tôm kết hợp với mật độ dưới 15 con/m2 nên ta không sử dụng thức ăn viên (công nghiệp) mà ta chỉ sử dụng nguồn thức ăn cho tôm chủ yếu là thức ăn tự nhiên (tảo và các vi sinh vật phù du) sẵn có trong vuông tôm. Để bổ sung thức ăn cho tôm nuôi ta có thể cho vào vuông tôm các loại lá cây như: lá Đước, lá Mắm (có hàm lượng đạm cao nhất), Dà, Giá, cỏ dại, dây leo… Vì vi khuẩn phân hủy các loại lá này là thức ăn tốt cho tôm nuôi, đồng thời đây cũng là nguồn phân xanh giúp cải thiện màu nước trong vuông tôm và tạo điều kiện cho các loài tảo có lợi sinh trưởng và phát triển. Nhưng cần phải lưu ý nếu thả các nhánh cây này quá nhiều với mật độ dày, sẽ làm giảm lượng oxy hòa tan trong nước và môi trường vuông tôm sẽ bị ô nhiễm do thối nước, vì vậy ta chỉ cho các lá cây vào ao tôm với mật độ hợp lý (15-30 m cắm 1 nhánh dọc theo chiều dài kênh mương).

4.     Quản lý dịch bệnh: Đây là một trong những việc rất khó trong quá trình nuôi tôm rừng, vì ta nuôi với mật độ thấp trong diện tích rộng nên không thể dựa vào các phương pháp xử lý bằng thuốc và hóa chất mà ta chỉ vận dụng qui trình sinh học và cơ học vốn có ở trong vuông tôm và khống chế dịch bệnh qua các yếu tố đầu vào. ở đây chúng tôi chỉ đưa ra một số lưu ý để người nuôi tôm có thể hạn chế được dịch bệnh trong quá trình nuôi tôm:
+   Cải tạo vuông đúng kỹ thuật
+   Chọn và thả những giống tốt +   Vận dụng phương pháp lấy và xổ nước qua cống xổ( nêu ở mục 1) để làm sạch môi trường nước.
+   Trong trường hợp tôm gặp sự cố ta phải hạ thấp mực nước trong vuông tôm xuống còn 1/3 trong thời gian từ 15-30 ngày đồng thời dùng phương pháp thủ công (lượm, nhặt các con tôm bệnh) nhằm để tránh lây lan dịch bệnh. tag: may suc khi o2-turbine

5.     Thu Hoạch và bảo quản tôm sau thu hoạch:
*    Thu hoạch:Sau khi tôm đạt từ 4-5 tháng tuổi thì tôm sẽ di chuyển ra biển theo chu kỳ sinh trưởng của tôm, dựa vào yếu tố này mà ta có thể thu hoạch tôm bằng các hình thức như: đặt đuôi chuột, xổ tôm qua cống xổ… Nhưng để có thể thu hoạch cũng như lấy và xả nước theo ý muốn thì ta cần phải chú trọng vào việc làm cống xổ  như sau:
+ Nên đổ cống xổ bằng bê tông cốt thép, chiều dài của cống càng dài càng tốt (tùy theo điều kiện kinh tế của mỗi gia đình) nhưng chiều dài tối thiểu của cống xổ là 12m.
+ Chiều dài tối thiểu bên ngoài (phía đuôi lú nằm trên cống khi xổ) phải dài hơn chiều dài của lú xổ tôm nhằm để tránh tình trạng “Treo Lú” khi xổ tôm thu hoạch.( chiều dài từ rảnh Lú đến cuối miệng ngoài của cống ít nhất là 8m)   + Để có thêm các giống loài khác vào vuông sinh sống ta phải lấy nước vào ban đêm, cho các ấu trùng: tôm thẻ, tôm bạc, tôm chì (đất), cá, cua… theo dòng nước vào vuông tôm. (phương pháp lấy nước và xổ vuông giống như phương pháp đã nêu ở mục 1)
Khuyến Cáo:  Thời gian thu hoạch nên bắt đầu từ ngày 12 Âm lịch (hoặc ngày 28 Âm lịch) sau 2 ngày xổ tôm ta nên nghỉ xổ từ 1-2 ngày (để cho tôm lột có thời gian làm vỏ) sau đó xổ tiếp đến khi nào nước ngoài kênh (Sông) “cáo đen” thì ngưng thu hoạch.
*    Bảo quản tôm sau thu hoạch:
–  Khi thu hoạch tôm lên bờ, đổ tôm lên bạt nilon để phân loại tôm, cua, cá… ra từng loại riêng biệt.
–  Sau khi phân loại rửa tôm lại bằng nước sạch. –      Vớt nhẹ tôm ra và đưa tôm vào thùng xốp cách nhiệt để muối tôm với tỷ lệ 1 tôm 1 đá.
Chú ý: các thao tác lựa tôm, muối tôm… phải thật nhẹ nhàng, tránh trường hợp bị long đầu, xây xác. Chỉ cần chúng ta vận  dụng tốt các giải pháp kỹ thuật này trong môi trường thiên nhiên rất thuận lợi ở vùng rừng ngập mặn thì bà con có thể nuôi tôm được quanh vụ để tăng thêm thu nhập. ( thay vì phương pháp nuôi truyền thống chỉ từ 1-2 vụ)

*    TUYỆT ĐỐI KHÔNG ĐƯA TẠP CHẤT VÀO TÔM NGUYÊN LIỆU. *    KHÔNG SỬ DỤNG THUỐC, HÓA CHẤT TRONG QUÁ TRÌNH NUÔI VÀ BẢO QUẢN TÔM NGUYÊN LIỆU.
*    TUYỆT ĐỐI KHÔNG SỬ DỤNG THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/ky-thuat-nuoi-tom-sinh-thai-rung-tom-ket-hop-2017.html

Kỹ Thuật Nuôi Tôm Sú Bán Thâm Canh, Thâm Canh

1/Chọn Lựa Ao Và Mùa Vụ Nuôi:

Thiết kế ao lắng chiếm 30% diện tích so với ao nuôi

Chọn ao nuôi có diện tích 3000-5000 m2,dễ chăm sóc quản lí.

Tập trung nuôi tôm trong vụ chính,bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau.Vụ phụ mùa mưa hạn chế tối đa việc thả nuôi hoặc chuỵển sang nuôi các lòai thủy sản khác như cá rô phi,cá điêu hồng…

Kỹ Thuật Nuôi Tôm Sú Bán Thâm Canh, Thâm Canh

2/Hệ Thống Cống:

Ao có hệ thống cống cấp,cống thóat riêng biệt.Hai cống đặt chéo góc nhau,cống thóat đặt cuối gío, cống cấp đặt đầu gío. Đáy ao nghiêng dần từ cống cấp đến cống thoát.Cấp đủ và thóat cạn nước ao trong thời gian không quá 6 giờ.

3/Cải Tạo, Xử Lý Ao Nuôi:

Thực hiện trước khi thả giống 15-20 ngày, áp dụng cho ao nuôi và ao lắng.Công việc đầu tiên xả cạn nước ao nuôi, sên vét đưa lớp bùn đáy ra ngòai xa khu vực nuôi,hạn chế tối đa mức độ ảnh hưởng ngược trở lại từ lớp bùn đáy tới nguồn nước, kinh cấp nước, khu vực nuôi…Chừa lớp bùn đáy dày 3-5cm, xảm các lỗ mọi, hang hốc, xan bằng phẳng đáy ao.Trước khi tiến hành công đọan bón vôi cần kiểm tra độ phèn (pH) đất và nước khu vực ao nuôi. Ao có độ pH từ 5.5-6 dùng vôi nông nghiệp (CaCO3), hoặc vôi sống (CaO) bón xuống ao với liều lượng 7-10kg/100mét vuông. Ao có độ phèn 4.5 – 5 trước khi bón vôi cần xả xổ nhiều lần (rửa ao).Lượng vôi dùng 15-20kg/100mét vuông, phơi nắng từ 3-5 ngày trước khi lấy nước vào ao. tag: máy sục khí o2-turbine

4/Xử Lý Gây Màu Nước:

Lấy nước vào ao qua lưới chắn tạp,địch hại. Mức nước qui định từ 1.2-1.5m.Không xử lí nước ngay sau khi lấy vào ao vì một số lòai địch hại tồn tại ở dạng trứng,có vỏ canxi rất dày bao bọc.Thuốc, hóa chất xử lí trong giai đọan này không thể diệt được.Sau khi lấy nước, để thời gian từ 7-10 ngày, chờ trứng các lòai địch hại nở ra. Dùng Chlorine lượng 30g/mét khối nước để xử lí, sau 5 ngày tiến hành gây màu nước.Sử dụng phân vô cơ DAP hòa nước tạt đều quanh ao lượng 300-500g/100m2,có thể hỗ trợ thêm 1kg bột cá + 1kg bột đậu nành cho mỗi 100mét vuông ao để màu mau lên.Khi nước có màu vàng vỏ đậu xanh thì tiến hành thả giống.

5/Chọn Lựa Con Giống:

Giống đều cỡ, đạt chiều dài từ 1.2-1.5cm.Đầy đủ phụ bộ như râu,chân bò, chân bơi, chũy, đuôi.Thân hình cân đối,họat động nhanh nhạy,màu sắc tươi sáng.Khi tôm vào thau nước quay nhẹ,tôm có xu hướng đi ngược dòng nước và phân bố đều quanh thau, không tụ thành đám ở giữa thau.Dùng 2-3cc Formaline cho vào 10 lít nước, cho 100 tôm post vào, sau 2 giờ tỉ lệ chết không quá 5%, đánh giá tôm tốt.Hoặc đột ngột hạ độ mặn của trại giống xuống 50%, cho 100 tôm post vào, sau 2 giờ ,tỉ lệ chết không qúa 5%, đánh giá tôm tốt. Ngòai ra,phương pháp test PCR cần thực hiện, vì mức độ chính xác cao hơn.

6/Thả Giống:

Kích cỡ giống post 15 nếu nuôi Bán thâm canh thả nuôi ở mật độ 20 con/mét vuông, nuôi thâm canh thả mật độ 30 con/m2 ao.

7/Thức Ăn:

Dùng thức ăn công nghiệp dạng viên cho tôm ăn. Những ngày đầu bổ sung thêm cá biển hấp chín, sữa bột giàu canxi, lòng đỏ trứng gà luộc chín. Cứ 100.000 post, mỗi ngày bổ xung 300-500g cá biển hấp, 200-300g sữa, 5-10 lòng đỏ trứng.

8/Chăm Sóc:
Không thay nước, đặc biệt là trong tháng nuôi đầu.Từ tháng nuôi thứ 2 chỉ châm thêm khi nước trong ao nuôi bị thất thoát do bốc hơi. Nguồn nước thay lấy từ ao lắng qua, và được xử lí kỹ trước khi dùng.

Tháng nuôi thứ 2 trở đi trong khẩu phần thức ăn trộn thêm VitamineC lượng 1-3g/kg thức ăn.Ngoài ra dùng thêm các loại men tiêu hóa,men đường ruột.trộn vào thức ăn, kích thích tôm ăn mồi nhiều hơn.

Từ tháng nuôi thứ 2, định kỳ 10-15 ngày dùng các loại chế phẩm sinh học bón xuống đáy ao, giúp cải thiện nền đáy, duy trì hệ tảo, giảm thiều các khí độc sinh ra nơi đáy ao. tag: may suc khi o2-turbine

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/ky-thuat-nuoi-tom-su-ban-tham-canh-tham-canh-2911.html

Bệnh Đầu Vàng (Yellow Head Disease) và Phòng Bệnh Cho Tôm Bằng Tỏi

1/ Bệnh Đầu Vàng (Yellow Head Disease)

Bệnh đầu vàng xuất hiện trên tôm sú, tôm thẻ chân trắng, tôm rảo, tôm rằn và nhiều loại tôm khác tại Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ… Ở Việt Nam, tôm nhiễm bệnh đầu vàng nhiều lúc thời tiết thay đổi lúc giao mùa, ở những vùng nuôi ven biển độ mặn cao.

Bệnh Đầu Vàng (Yellow Head Disease)

Bệnh đầu vàng trên tôm sú (Penaeus monodon): Tôm bên trái: bị nhiễm bệnh. Tôm bên phải: bình thường.

Triệu chứng:

– Tôm ăn nhiều khác thường trong vài ngày, rồi bỏ ăn đột ngột. Sau đó 1-2 ngày tôm bơi lờ đờ không định hướng trên mặt nước hoặc ven bờ, bám vào bờ.

– Phần đầu ngực, gan, tụy chuyển màu vàng, gan có thể có màu trắng nhạt, vàng nhạt hoặc nâu

– Thân tôm có màu nhợt nhạt

– Tôm chết rải rác trong vó rồi chết với mức độ tăng dần

– Tôm chết rất nhanh trong vòng 3-5 ngày (có thể chết gần 100%) sau khi xuất hiện các triệu chứng.

– Theo Việt Linh, bệnh nặng thêm và gây chết nhanh khi tôm vừa có dấu hiệu nhiễm bệnh đầu vàng vừa có bệnh đốm trắng. tag: máy sục khí o2-turbine

Phương pháp chẩn đoán bệnh:

– Nhận biết triệu chứng bệnh.

– Nhuộm màu mô bào, tế bào máu nhận thấy nhân tế bào bị thoái hóa đông đặc.

– Phân tích PCR.
Nguyên nhân:

– Bệnh do virus YHV (yellow head virus) là virus có acid nhân RNA chuỗi đơn, hình que, kích thước 44 x 173 nm, thuộc loài Nidovirales, họ Ronaviridae, chi Okavirus.

Lây truyền bệnh:

– Chủ yếu lây truyền theo hàng ngang, do có vật chủ trung gian mang mầm bệnh vào môi trường nước.

Phòng và trị bệnh:

– Bệnh đầu vàng chưa có thuốc chữa.

– Phòng ngừa và ngăn chặn bằng cách chọn tôm giống sạch bệnh (qua kiểm tra PCR), diệt khuẩn và diệt vật chủ mang mầm bệnh trong ao và nước.

– Không nuôi mật độ quá cao.

– Luôn cung cấp đủ oxy cho ao nuôi.

– Giữ môi trường ổn định.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/benh-dau-vang-yellow-head-disease-3941.html

2/ Phòng Bệnh Cho Tôm Bằng Tỏi

Mới đây, một nông dân ở xã Vinh Xuân, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế, đã dùng tỏi – một vị thuốc dân gian để phòng bệnh cho tôm và đem lại hiệu quả cao.

Phòng Bệnh Cho Tôm Bằng Tỏi

Vụ nuôi tôm đầu tiên của năm nay, gần như 100% tôm đã thả nuôi của xã Vinh Xuân đều bị chết, với tổng diện tích hơn 100 ha tôm mất trắng. Nguyên nhân là do dịch bệnh lây lan nhanh qua nguồn nước, nên tất cả các hộ đều thiệt hại. Thường thì các hộ nuôi dùng các loại kháng sinh có sẵn trên thị trường để phòng và trị bệnh cho tôm, nhưng hiệu quả không cao, hàng năm vẫn thua lỗ hàng chục tỉ đồng.

Riêng gần 1 ha hồ tôm của gia đình ông Lê Đức Xuân vẫn cho năng suất cao, trừ chi phí lãi hơn 23 triệu đồng. Đến vụ 2, tình hình lặp lại tương tự. Điều này đã trở thành 1 kỳ tích đối với các hộ cùng làm nghề. Chuyện lạ đó bắt đầu từ việc ông Xuân nảy sinh ý tưởng dùng tỏi để phòng bệnh cho tôm. Nói về sáng kiến của mình, ông Lê Đức Xuân cho biết: “Cái gì trong dân gian trị được cho người thì cũng có thể dùng được cho vật nuôi, xuất phát từ ý tưởng đó tôi nghiên cứu và bắt đầu bỏ không cho tôm ăn thuốc, vì thuốc có lợi trước mắt nhưng có hại về sau, mà tôi cho ăn tỏi. Thời gian tôi ở trong rừng mỗi lần bị cảm cúm đều ăn tỏi để trị cảm cúm, trị môi trường nước non, nên lần này tôi làm thử”.

Khi tôm bị bệnh, gia đình ông Xuân đã thử làm thuốc kháng sinh bằng tỏi cho tôm ăn. Khâu chế biến cũng không phức tạp lắm, củ tỏi được bóc sạch vỏ, giã nhuyễn, đem chưng vàng với dầu thực vật, theo tỷ lệ: 1 kg tỏi cộng với 1 lít dầu ăn, rồi đem trộn với 15 kg thức ăn của tôm, để một thời gian nhất định cho hợp chất trên ngấm đều, sau đó cho tôm ăn cách quãng trong 5 bữa. Thường thì, chỉ cho tôm ăn thức ăn có trộn tỏi trong khoảng từ 7 đến 10 hôm, là tạm nghỉ với thời gian tương đương, sau đó lại tiếp tục. Cứ như thế, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, ông Xuân đã tự lập được pháp đồ phòng và trị bệnh cho tôm bằng tỏi. Phòng bệnh cho tôm bằng tỏi có chi phí thấp hơn nhiều so với dùng thuốc. tag: may suc khi o2-turbine

Ông Lê Đức Xuân cho biết, bình quân trước đây 1 vụ, gia đình ông dùng thuốc bán sẵn trên thị trường chi phí từ 2 đến 3 triệu, vụ vừa rồi chỉ dùng tỏi, chi phí giảm còn khoảng 300.000 đồng. Rõ ràng tỏi đã tăng sức đề kháng cho tôm, nhưng dù như vậy thì cũng phải hết sức cẩn thận trong việc lấy nước vào, bởi nước ô nhiễm luôn mang theo nguồn bệnh, đó là kinh nghiệm của ông Xuân.

Một số hộ cũng đã làm theo ông Xuân, nhưng do không kiên trì làm từ đầu đến cuối, lại chủ quan trong việc lấy nước, nên tôm vẫn dịch bệnh. Tuy nhiên, để bài thuốc trên của ông Xuân có thể sử dụng một cách phổ biến, các cơ quan chức năng tỉnh Thừa Thiên Huế cần quan tâm, nghiên cứu và kiểm chứng, bởi rất có thể từ ý tưởng của người nông dân này lại là giải pháp hữu hiệu cho tình trạng dịch bệnh tôm chết tràn lan như hiện nay.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/phong-benh-cho-tom-bang-toi-3544.html

Phòng Trị Bệnh Chung Cho Tôm và Phòng Trị Bệnh Đen Mang Cho Tôm

1/ Phòng Trị Bệnh Chung Cho Tôm

Tôm hiện là một trong những loài thủy sản nuôi nhiều nhất và đem lại lợi nhuận cao cho bà con nông dân. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công cũng không ít nông dân phải lao đao vì tôm mắc bệnh. Để giúp bà con phòng tránh những hiểm họa trong nuôi tôm, chúng tôi xin giới thiệu một số bệnh và đưa ra cách phòng tránh chung giúp bà con phần nào hạn chế những thiệt hại có thể xảy ra.

Phòng Trị Bệnh Chung Cho Tôm

1. Bệnh viêm ruột, xuất huyết đường ruột và hoại tử

Nguyên nhân: Tôm bị nhiễm trùng và thiếu dinh dưỡng, thiếu vitamin C. Ngoài ra cũng có thể do tôm bị ngộ độc khí, kim loại nặng hoặc do các yếu tố môi trường xấu (hàm lượng oxy, nồng độ muối thấp, nhiệt độ nước ao thay đổi đột ngột, trong nước ao nuôi có độc tố do một số tảo tiết ra khi vào ruột tôm làm tấy đỏ thành ruột và ức chế chức năng gan tụy).

Dấu hiệu: Bệnh xảy ra ở tất cả các giai đoạn phát triển từ tôm giống đến trưởng thành làm cho tôm mất khả năng thấm lọc ruột dẫn đến hấp thụ dinh dưỡng kém rồi tử vong. Đối với tôm bị bệnh thường lờ đờ, vỏ có màu xanh nhạt, dưới vỏ có nhiều đốm màu nâu, hơi vàng. Khả năng tiêu hóa của ruột và gan tụy giảm sút nghiêm trọng làm tôm giảm ăn, chậm lớn, dễ bị sốc. Trong ruột tôm có nhiều vi sinh vật tạp khuẩn.

Phòng bệnh: Nên sử dụng chế phẩm sinh học để tăng cường đường tiêu hóa, tạo khả năng cho ruột tôm hấp thụ tốt các chất dinh dưỡng, đồng thời làm sạch đáy ao, giảm thiểu các khí độc và độc tố do môi trường bị ô nhiễm.

Sử dụng chế phẩm ES-22 Imm Build để tăng cường sức đề kháng cho tôm. Đối với tôm thịt ngay sau khi thả post xuống ao nuôi, rắc khoảng 50-100gam ES-22 (ngày 2 lần) lên mặt ao nuôi có diện tích 1.000m2. Từ tuần thứ 2 đến tuần thứ 4 trộn 200g (0,2%) với 100kg thức ăn để cho tôm ăn hàng ngày. Từ 1tháng tuổi đến khi thu hoạch trộn 100g (0,1%) với 100kg thức ăn để cho tôm ăn hàng ngày. tag: máy sục khí o2-turbine

2. Bệnh phát sáng

Dấu hiệu: Xảy ra ở tất cả các giai đoạn phát triển của tôm. Bệnh này có thể gây ra hiện tượng tôm bị mòn đuôi, cụt râu.

Phòng bệnh: Giữ nền đáy sạch trong suốt quá trình ương nuôi, dùng men vi sinh 3 lần/tháng (loại Actizymen hay loại BRF-2) tăng cường sục khí để tăng oxy hòa tan và đồng đều ôxy giữa các tầng nước, tránh hiện tượng tảo tàn. Có thể dùng đường cát bón xuống ao (1-3ppm) để kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn phát sáng.

Giảm độ mặn nước ao xuống dưới 20%0 có thể giảm sự phát triển của vi khuẩn phát sáng

Dùng BKC phun xuống ao để diệt vi khuẩn phát sáng tồn tại trong ao với nồng độ 0,1-0,5ppm.

3. Bệnh đốm nâu:

Bệnh thường xảy ra sau khi nuôi 2-3 tháng trở đi, trên cơ thể tôm xuất hiện các đốm màu nâu và sau đó chuyển sang màu đen. Khi nhiễm bệnh, thường xuất hiện ăn mòn các phần phụ như đuôi, chân bụng, râu, trên thân tôm.

Tôm bị bệnh sẽ rất yếu, hoạt động chậm chạp, con bị nặng sẽ chết. Tác nhân gây ra bệnh chủ yếu do vi khuẩn Aeromonas.

Phòng trị: Khi tôm bị bệnh thay dần nước ao. Kiểm soát phòng ngừa bênh đốm nâu bao gồm: cải thiện môi trường nuôi thông qua sự chăm sóc, quản lý và đầy đủ dinh dưỡng, đáy ao phải bằng phẳng, tăng cường tác ẩn cho tôm, hạn chế tối đa sự tụ tập của tôm chống hiện tượng ăn thịt lẫn nhau bằng cách cung cấp đầy đủ thức ăn và giữ cho chất lượng nước ao luôn tốt.

4. Bệnh đỏ toàn thân

Nguyên nhân: Có thể do các chất độc từ các vi sinh vật hay do nhiễm vi khuẩn. Cho tôm ăn thức ăn có tạp hôi thối lâu ngày là nguyên nhân gây bệnh. Các vi khuẩn gây độc và gây bệnh này trú ở gần gan tụy của tôm. Các loại tôm đều mắc bệnh này. Bệnh xảy ra ở tất cả các giai đoạn nhưng phổ biến ở tôm giống và tôm trưởng thành.

Bệnh lý được biểu hiện qua những giai đoạn khác nhau, tôm mới nhiễm bệnh có màu vàng hơi xanh, tập tính bình thường. Giai đoạn tiếp theo, tôm trở nên có màu đỏ từ mang, các đầu chân, và sau đến toàn bộ cơ thể. Giai đoạn nặng, sắc tố bình thường của tôm bị mất hoàn toàn. Trên đầu ngực của tôm có nhiều chất dịch nhờn, rất tanh và hôi thối. Gan tụy bị phá hủy và có màu vàng nhợt nhạt không bình thường. Tôm bệnh chết hàng loạt.

Phòng bệnh: Không cho tôm ăn thức ăn tươi sống quá dư thừa. Chuẩn bị ao kỹ trước khi nuôi và quản lý chất lượng nước ao tốt để hạn chế bệnh xảy ra.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/phong-tri-benh-chung-cho-tom-3944.html

2/ Phòng Trị Bệnh Đen Mang Cho Tôm

Thông tin từ Báo Khoa học và Phát triển hướng dẫn về cách phòng trị bệnh đen mang cho tôm. Sau đây là một số nguyên nhân dẫn đến hiện tượng tôm bị đen mang:

Phòng Trị Bệnh Đen Mang Cho Tôm

Trong ao xảy ra các hiện tượng tảo tàn, ô nhiễm hữu cơ cao, các vật chất lơ lửng trong ao sẽ bám vào mang làm nó chuyển sang màu vàng, nâu đen.

Tôm trong ao có hiện tượng bị đóng rong, các sinh vật bám như động vật đơn bào, vi khuẩn dạng sợi, tảo, nấm bám trên mang và bề mặt cơ thể của tôm. Các sinh vật này tạo điều kiện cho các chất vẩn hữu cơ bám và làm mang tôm chuyển màu.

Khi mang tôm bị nhiễm vi khuẩn hay nhiễm nấm Fusarium cũng làm xuất hiện các sắc tố Melanin (sắc tố màu đen) làm mang tôm có màu đen.

Tôm sống trong điều kiện pH thấp, có nhiều ion kim loại nặng như nhôm, sắt, muối của các kim loại này kết tụ trên mang của tôm làm nó chuyển màu đen. tag: may suc khi o2-turbine

Phòng trị bệnh

Như vậy, có nhiều nguyên nhân khác nhau (nguyên nhân sinh học và nguyên nhân môi trường) gây đen mang tôm trong ao nuôi tôm, ngăn chặn các nguyên nhân trên sẽ có tác dụng phòng bệnh, không để hiện tượng ô nhiễm hữu cơ xảy ra trong ao, giữ đáy ao sạch bằng cách làm tốt công tác tẩy dọn, lắng lọc nước trước khi đưa vào ao, cho ăn thức ăn có chất lượng tốt và không dư thừa, thường xuyên dùng men vi sinh (loại BRE-2; Actizyme 3 lần/tháng), tăng cường sục khí để tăng hàm lượng oxy, có thể kết hợp dùng một số thuốc sát trùng như Formalin, BKC …

Khi có hiện tượng bệnh lý xuất hiện cần xem xét để tôm bị đen mang do nguyên nhân nào, trước tiên cần cải thiện điều kiện môi trường như phần phòng bệnh, để có thể giải quyết được cần dùng hóa chất dược theo 2 hướng, tiêu diệt mầm bệnh bằng các chất sát trùng và dùng kháng sinh trộn vào thức ăn để diệt tác nhân gây bệnh trên cơ thể của tôm.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/phong-tri-benh-den-mang-cho-tom-3962.html

Tiêu Chuẩn Chọn Tôm Sú Giống và Bảo Quản Tôm Sau Thu Hoạch

1/ Phương pháp Chọn Tôm Sú Giống

Tôm giống tốt là yếu tố rất quan trọng để đạt năng suất cao trong khi nuôi và phòng tránh được các loại bệnh gây ra cho tôm.

Tiêu Chuẩn Chọn Tôm Sú Giống

Tiêu chuẩn lựa chọn:

– Con giống phải đồng đều, cùng kích cỡ, khoảng 12mm.

– Tôm sú có 6 đốt ở bụng, các đốt này càng dài càng tốt và tôm sẽ lớn nhanh. Tôm có đuôi, râu hình dáng chữ V và góc hai râu sát nhau như góc chữ V là tôm khoẻ.

– Các chân ở phần đuôi gọi là chân đuôi hay đuôi, khi bơi xoè rộng, khoảng cách giữa 4 chân ở phần đuôi càng xa càng tốt…

– Cơ thịt bụng tôm co đều đặn, căng bóng mới tạo được dáng vẻ đẹp cho tôm.

– Không có vật lạ như nấm, vi khuẩn, hay nguyên sinh động vật bám ở chân, bụng, đuôi, vỏ và mang tôm. Những vật lạ này sẽ làm tôm bị ngạt và không lột xác được.

– Màu sắc tôm tươi sáng, vỏ mỏng, có màu tro đen đến đen, đầu thân cân đối là con giống tốt.

– Tôm bơi ngược dòng rất khoẻ khi đảo nước trong chậu hoặc bám chắc khi bị dòng nước cuốn đi. Nếu có 10 trong số 200 con thả mà trôi theo dòng nước là giống tôm yếu, tôm xấu. Tôm phàm ăn, ăn tạp, chân ngực bắt giữ mồi tốt là con giống tốt.

– Tôm có khả năng chịu đựng tốt khi dùng formol. Số tôm bị chết ít (5/150 con) khi dùng formol 1cc/10 lít nước, đó là giống tốt.  tag: máy sục khí o2-turbine

Sau khi chọn lựa tôm giống theo các tiêu chuẩn trên, trước khi thả tôm vào ao, phải tắm vô trùng cho tôm rồi thả tôm giống vào ao hoặc ương tiếp 15- 20 ngày, sau đó tuyển chọn tiếp lần nữa mới thả nuôi sẽ đảm bảo hơn.

Tuyển chọn lại những con tôm khoẻ, xoè đuôi ra hết cỡ khi bơi. Những con thích bơi ngược dòng nước thả vào ao là tốt nhất. Mật độ thả trung bình 5- 7 con/m2 với nuôi quảng canh và 30 – 50 con nếu nuôi thâm canh.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/tieu-chuan-chon-tom-su-giong-3934.html

2/ Phương pháp bảo quản tôm sau thu hoạch.

Hiện nay đang vào mùa thu hoạch tôm ở ĐBSCL và các tỉnh phía Nam. Để sản phẩm tôm được đảm bảo chất lượng và vệ sinh trước khi chế biến, bà con cần lưu ý về phương pháp bảo quản tôm sau thu hoạch.

Bảo Quản Tôm Sau Thu Hoạch

Chuẩn bị dụng cụ

Trước khi thu hoạch, tôm cần chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ và vật liệu như tấm bạt nhựa, xô, rổ nhựa, thùng cách nhiệt, nước sạch để rửa tôm, nước đá sạch để bảo quản.

Thu hoạch

Chỉ thu hoạch khi tôm có vỏ cứng và kích cỡ ít hơn 40 con/kg. Muốn biết được điều này, trước khi thu hoạch 1-2 ngày, tiến hành kiểm tra, nếu tỷ lệ tôm mềm vỏ dưới 1% và tôm đạt trọng lượng 30-40 con/kg mới tiến hành thu hoạch.

– Dùng lú đặt khắp ao, cho chạy quạt để bắt bớt lượng tôm trong ao, sau đó thu toàn bộ qua lú đặt ở cống và bơm khô nước để thu nhặt hết tôm còn sót lại.

– Dùng lưới kéo có diện tích lớn hoặc lưới xung điện để kéo tôm, sau đó bơm khô và thu toàn bộ. Sau đó, rửa tôm bằng nước sạch, loại bỏ rác.

Lưu ý: Rửa và lựa tôm nơi thoáng mát. Tôm phải được để trên tấm nhựa hoặc rổ nhựa sạch, không để tôm trực tiếp xuống đất, sàn gỗ hoặc nền xi măng.

– Gây chết tôm bằng nước đá lạnh theo tỷ lệ 2 phần tôm với 1 phần nước đá và 1 phần nước. Đổ nước vào thùng nhựa hoặc thùng cách nhiệt. Cho nước đá xay hoặc nước đá vảy vào theo tỷ lệ 10 kg nước đá vào 10 lít nước. Khuấy đều cho nước đá tan (độ lạnh 00C), cho 20 kg tôm vào thùng, đậy nắp lại và giữ nước khoảng 30 phút.

Ướp tôm

– Sau khi tôm chết và được làm lạnh thì vớt ra và chuyển sang ướp với nước đá xay hoặc đá vảy trong thùng cách nhiệt. Tỷ lệ tôm và nước đá tùy thuộc vào thời gian bảo quản và vận chuyển tôm đến nơi thu mua hoặc xí nghiệp tôm đông lạnh. Nếu thời gian bảo quản và vận chuyển không quá 12 giờ thì ướp tôm với nước đá theo tỷ lệ 10 kg tôm với 5 kg nước đá; từ 12- 14 giờ thì theo tỷ lệ 10 kg tôm với 10 kg nước đá.

– Trải một lớp nước đá ở đáy thùng cách nhiệt dày khoảng 10 cm. Cho vào một lớp tôm mỏng dưới 10 cm, sau đó xếp lần lượt một lớp nước đá 1 lớp tôm cho đến khi đầy thùng. Trên cùng phủ lớp nước đá dày hơn 10 cm. Đậy kín nắp thùng và bảo quản nơi thoáng mát. tag: may suc khi o2-turbine

Vận chuyển

Sau khi tôm được ướp với nước đá cần chuyển ngay đến nơi thu mua hoặc xí nghiệp đông lạnh càng sớm càng tốt.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/bao-quan-tom-sau-thu-hoach-3567.html

Gây Màu Nước Trong Ao Nuôi Tôm

Trong nuôi tôm, màu nước nuôi rất quan trọng. Có màu nước lợi cho tôm và cũng có màu nước lại gây hại cho tôm. Vì vậy người nuôi tôm cần nắm vững quy luật thay đổi màu nước. Bản chất của màu nước được định lượng bằng hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ chứa trong nước.

Gây Màu Nước Trong Ao Nuôi Tôm

Các hợp chất vô cơ.

Các hợp chất vô cơ bao gồm chất không hòa tan và hòa tan. Nếu nước ao nuôi đủ chất lượng thì hàm lượng các chất vô cơ không hòa tan (cát, bùn) không được quá 80mg/lít, vì nếu quá tôm sẽ chết vì ngạt thở do bị bít mang. Còn các chất vô cơ hòa tan thường do phèn sắt (màu đỏ gạch) trong đó sắt có hóa trị 1, 2, 3 rất có hại cho tôm. Khi mực nước ngoài cao hơn mực nước ao nuôi thì đáy ao có thể lỏng, dạng rỉ sắt màu đỏ làm nước ao tôm có màu gạch đỏ, trên mặt ao xuất hiện váng. tag: máy sục khí o2-turbine

Các chất hữu cơ.

Các chất hữu cơ bao gồm các sinh vật phù du, thực vật đáy, động vật nguyên sinh. Các phiêu sinh thực vật (sinh vật phù du) và phiêu sinh động vật là nguồn thức ăn tự nhiêm của tôm, giúp tôm tăng trưởng nhanh.

Việc tạo màu nước thông qua sử dụng các loại phân hữu cơ và vô cơ là tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm, nhất là ở giai đoạn đầu khi tôm còn nhỏ. Muốn nuôi tôm, trước đó phải nuôi màu nước, để tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm.

Cách nuôi nước.

– Bón phân vô cơ (urê hoặc DAP): bón ngày thứ nhất 2,2kg/1.000m2; từ ngày thứ 2-21, mỗi ngày bón 0,65kg/1.000m2; từ ngày thứ 22-30, bón 0,95kg/1.000m2.

– Bón phân hữu cơ: dùng cám sống, bón ngày thứ nhất đến ngày thứ 21; bón 1-1,2kg/1.000m2/ngày; từ ngày 22-30 bón 1,3kg/1.000m2/ngày.

Các loại phân hữu cơ như phân chuồng, phân gà thường dễ mang theo vi khuẩn gây bệnh. Còn các loại phân DAP, urê, tuy tạo nguồn thức ăn cho sinh vật phù du rất tốt, nhưng tàn lụi rất nhanh. Hai loại phân hữu cơ và vô cơ tuy có giúp phát triển sinh vật phù du song màu nước rất dễ lên và xuống. Các loại sinh vật phù du do các loại phân này tạo điều kiện phát triển chỉ đạt yêu cầu về định lượng, mà không đạt về định tính. Nó tùy thuộc vào loại tảo sẵn có trong ao, chứ không định hướng được loại tảo nào cần ưu tiên phát triển, loại tảo nào cần hạn chế. Việc sử dụng chế phẩm sinh học để nuôi các phiêu sinh là đặc dụng nhất, vì nó chủ động đưa vào nước ao nuôi một hệ vi sinh vật có lợi, nhằm giúp các loại tảo có ích phát triển và hạn chế các loại tảo có hại.

Các chế phẩm sinh học vừa đáp ứng được yêu cầu trên, vừa làm cho nước ao nuôi “béo lên”, vừa làm sạch nước, giảm BOD, COD, phòng bệnh và kích thích tôm sinh trưởng. Nếu ao nuôi khó gây màu nước, có thể do nước ao thiếu nguồn tảo cần thiết, nên lấy nước ở ao “béo” khác (có màu nước tốt) làm nguồn giống cho vào các ao này, rồi sử dụng chế phẩm sinh học để thúc đẩy các sinh vật phù du hữu ích phát triển.

Khi màu nước ao nuôi đã đạt yêu cầu (vàng nâu hoặc nâu lục), độ trong đạt 25-40cm thì thả tôm giống. Sau khi thả tôm giống, do năng lực bơi và bắt mồi của tôm còn yếu, trong 20-30 ngày đầu (tôm con chủ yếu ăn các phiêu sinh vật) nên tạo màu nước tốt lúc đầu là biện pháp kỹ thuật quan trọng, để nâng cao tỉ lệ tôm sống, tạo điều kiện cho tôm phát triển tốt ở giai đoạn giữa và giai đoạn cuối.

Chú ý, khoảng 7-10 ngày sau khi thả, tôm đã bắt mồi nên các phiêu sinh trong ao nuôi có thể cạn dần, vì thế cần tiếp tục bón tiếp chế phẩm sinh học để ổn định màu nước, đảm bảo tôm con không bị gián đoạn nguồn thức ăn tự nhiên.

Giai đoạn đầu thực hiện 7-10 ngày “bón thúc” chế phẩm sinh học một lần, cho đến khi tôm đạt yêu cầu để chuyển sang giai đoạn giữa và cuối.

Ao có màu nước tốt nghĩa là các loại phiêu sinh vật trong ao phát triển tốt, tôm nuôi trong vòng 20-30 ngày đầu không cần cho ăn thêm thức ăn công nghiệp. Trong trường hợp mật độ 50 con/m2, nguồn thức ăn tự nhiên có thể không đủ, cần cho thêm lượng thức ăn công nghiệp thích hợp dành cho tôm giống và đó cũng là cách gián tiếp tạo màu nước, tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm. tag: may suc khi o2-turbine

Giai đoạn đầu không được cho tôm ăn thức ăn tươi sống như cá, nhuyễn thể, trứng nghiền vì tôm con chưa ăn được mà còn tạo điều kiện cho vi sinh vật gây bệnh, có hại phát triển, vô tình phá vỡ cơ cấu sinh thái nước ao.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/gay-mau-nuoc-trong-ao-nuoi-tom-4109.html

Biện Pháp Phòng Và Khắc Phục Bệnh Thân Đỏ Đốm Trắng Ở Tôm Sú

Ở tôm sú, bệnh thường hay gặp nhất, khó ngăn ngừa và điều trị là bệnh thân đỏ đốm trắng. Theo các công trình nghiên cứu, tất cả các giai đoạn phát triển của tôm đều có thể nhiễm bệnh này. Giai đoạn phát triển mạnh nhất là từ tháng nuôi đầu tiên đến tháng nuôi thứ hai trong ao nuôi tôm thịt.

Biện Pháp Phòng Và Khắc Phục Bệnh Thân Đỏ Đốm Trắng Ở Tôm Sú

Gây bệnh đốm trắng ở tôm sú do một loại virus có tên khoa học Systemic Ectodermal and Mesodorma Baculoviras (SEMBV). Virus này nhiễm cảm ở một số mô của nhiều cơ quan khác nhau có nguồn gốc trung bì và ngoại bì như: mang, lớp biểu bì mô của vỏ, thần kinh, dạ dày và một số cơ quan khác trên con tôm.

Trên thực tế, dù có phương pháp ngăn ngừa tốt như thế nào thì điều kiện tôm bị virus SEMBV vẫn tồn tại, đôi lúc người nuôi điều trị bằng thuốc và hóa chất cũng không ổn. Bởi vậy, việc có thể làm là ngăn chặn, tránh lây lan từ ao nuôi này sang ao nuôi khác. tag: máy sục khí o2-turbine

Các kết quả nghiên cứu cho biết, hiện nay bệnh đốm trắng ở tôm sú có 3 nguyên nhân gây bệnh, đó là do nhiễm virus, do môi trường và nhiễm khuẩn. Tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng do môi trường và nhiễm khuẩn có thể xử lý, khắc phục được, còn tôm bị nhiễm bệnh do virus SEMBV thì chưa có biện pháp hữu hiệu để điều trị.

Tôm sú bị nhiễm bệnh đốm trắng có những dấu hiệu như: tôm dạt vào bờ; trên thân tôm xuất hiện nhiều các đốm trắng tròn to, nhỏ khác nhau; khả năng tiêu thụ thức ăn bị giảm sút nghiêm trọng, đa phần tôm dạt vào bờ đều có ruột rỗng, không có thức ăn; tôm chết hàng loạt, có thể chết hết từ 5 – 7 ngày sau khi bị nhiễm bệnh.

Nhiều công trình nghiên cứu đã tìm ra các loại hóa chất để diệt virus SEMBV gây bệnh thân đỏ đốm trắng ở con tôm sú như: Formaline (70ppm), thuốc tím (10ppm), acid phoraccitic (8ppm)…

Về nguyên tắc, nếu xử lý các loại hóa chất này xuống ao nuôi đang có tôm bị nhiễm bệnh thì có thể tiêu diệt được virus SEMBV, tôm bị nhiễm bệnh vẫn có thể nuôi cho đến khi thu hoạch. Nhưng trên thực tế, điều này rất tốn kém và không hiệu quả. Vì vậy, biện pháp phòng bệnh có vai trò rất quan trọng trong nuôi trồng.

Để phòng bệnh, ao trước khi đưa vào nuôi phải được tẩy dọn kỹ, vét sạch chất thải từ vụ nuôi trước để lại, phơi đáy ao từ 5 – 7 ngày, dùng Fomaline để tẩy diệt virus trong ao và các mầm bệnh khác; chọn tôm giống khỏe bằng phương pháp PCR; không thay nước trực tiếp từ biển, mỗi ao nuôi cần phải có một ao chứa nước riêng biệt, trước khi đưa vào nuôi phải được xử lý bằng Fomaline 10ml/m3 hay Clorine 10 – 15ml/m3 ngay trong ao chứa; hàm lượng oxy hòa tan phải lớn hơn 3mg/l, độ pH từ 7,5 – 8,5; ngăn chặn và loại bỏ tất cả các loài giáp xác trong ao nuôi và trong ao chứa bằng biện pháp tẩy dọn, diệt tạp và lọc nước kỹ trước khi đưa vào ao; giữ nền đáy ao sạch sẽ trong suốt chu kỳ nuôi và cho thức ăn tổng hợp có bổ sung một lượng vitamin C từ 2 – 4g/kg thức ăn để tăng sức đề kháng cho tôm.

Nếu phát hiện tôm bị nhiễm bệnh thân đỏ đốm trắng do nhiễm virus, trong trường hợp tôm đã đạt kích cỡ thương phẩm thì nên thu hoạch ngay, sau đó dùng Fomaline hay Clorine liều cao để xử lý nước trong ao trước khi xả ra môi trường. Trong trường hợp tôm chưa đạt kích cỡ thương phẩm thì nên dùng Fomaline phun trực tiếp xuống ao với nồng độ từ 15 – 30ml/m3 để tiêu diệt virus tự do ngoài môi trường và tiêu diệt luôn cả những con tôm bị nhiễm virus, sau đó cần xử lý tôm chết và tiến hành thay nước sạch.

Khi tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng do độ pH cao thì có thể tìm mọi cách làm giảm độ pH cho phù hợp từ 7,5 – 8,5 như: thay nước mới, dùng Fomaline với nồng độ từ 3 – 4 (ppm), dùng vôi để ổn định độ pH nước trong ao nuôi. Trong trường hợp tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng do cảm nhiễm vi khuẩn thì biện pháp khắc phục duy nhất là thu gom tôm chết, tôm yếu dạt vào bờ; cải thiện ao nuôi bằng cách làm sạch đáy bằng máy sục khí và ổn định sự phát triển của tảo; dùng Fomaline có nồng độ từ 10 – 15ml/m3 phun xuống ao để tiêu diệt vi khuẩn ngoài môi trường, sau 12 giờ tiến hành thay nước sạch và cho tôm ăn liên tục 5 ngày kết hợp với kháng sinh Furazolidon hoặc Oxytetracylin với liều lượng 40 – 50mg/kg tôm/ngày. tag: may suc khi o2-turbine

Ngày nay, để phát hiện tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng, người ta thường dùng phương pháp kiểm tra bằng máy PCR theo từng thời kỳ. Nếu máy cho kết quả (+) thì ao nuôi đã bị nhiễm bệnh, kết quả (-) thì ao nuôi đang trong thời kỳ an toàn. Khi phát hiện ra tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng, điều vô cùng quan trọng là phải có biện pháp ngăn chặn, không cho lây sang các ao khác. Biện pháp này sẽ giảm được thiệt hại rất nhiều đối với nghề nuôi tôm sú.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/bien-phap-phong-va-khac-phuc-benh-than-do-dom-trang-o-tom-su-3945.html

Nuôi Vỗ Tôm Sú Bố Mẹ Theo Qui Trình Lọc Sinh Học

Hiện nay các cơ sở sản xuất tôm giống chủ yếu tập trung nuôi vỗ thành thục trong bể xi măng. Tài liệu này xin đề xuất thêm phương pháp nuôi vỗ thành thục tôm bố mẹ trong hệ thống lọc sinh học tuần hoàn nước như sau:

Nuôi Vỗ Tôm Sú Bố Mẹ Theo Qui Trình Lọc Sinh Học

Thiết kế trại tôm mẹ

Trại tôm mẹ được thiết kế cần 10 – 15% diện tích mái lợp sử dụng tol nhựa mờ, xung quanh bể che kín là đủ ánh sáng cần thiết cho quá trình nuôi vỗ

– Bể nuôi vỗ: Thường sử dụng bể nhỏ có thể tích 100 – 500 lít được nối với hệ thống lọc sinh học bằng 15 – 20% tổng thể tích bể nuôi.

– Bể nuôi tôm đực và giao vĩ: Bể có dạng hình tròn, thể tích từ 1 – 2 m3, chiều cao 0,8 – 1 m được nối với hệ thống lọc sinh học

– Bể đẻ: Thường có thể tích 0,5 – 1 m3, có dạng hình tròn, đáy bằng để cho quá trình sục khí cung cấp ôxy cho trứng được phát triển đồng đều hơn. tag: máy sục khí o2-turbine

Chọn tôm bố mẹ:

Tiêu chuẩn chọn tôm bố mẹ rất quan trọng:

– Về hình thái: Tôm khoẻ mạnh, màu sắc rực rỡ, không bị tổn thương, bị bệnh hoặc có màu đỏ sậm, đặc biệt con cái có túi tinh ở cơ quan sinh dục, nếu tôm có xuất hiện đường trứng càng tốt

– Về trọng lượng: Tôm đực có trọng lượng trên 80gam, tôm cái trên 160 gam.

Cách vận chuyển:

– Phương pháp vận chuyển kết hợp với sục khí (dùng sục khí chạy bằng pin) và thùng xốp 40cm x 60cm, mức nước 10 cm, mật độ 4 đến 6 con.

– Phương pháp vận chuyển bằng ô xy (dùng túi nilon 40cm x 90cm), mật độ 4 đến 6 con. Dùng nhựa mềm đường kính 5 mm cắt thành đoạn 2 cm gắn vào chuỹ tôm trước khi đóng bao.

– Thời gian vận chuyển không quá 48 giờ

– Nhiệt độ khi vận chuyển 20 – 220C, nên thuần hoá tôm mẹ trong 15 – 30 phút trước khi thả vào bể nuôi vỗ nhằm giúp tôm quen dần với môi trường mới.

Chăm sóc:

– Một số trại chỉ cho tôm cái đẻ vài lần sau khi cắt mắt, khi trứng thụ tinh kém (dưới 50%), trại sẽ không sử dụng số tôm mẹ đó nữa, một số trại nuôi vỗ tôm mẹ đòi hỏi có tôm đực với tỷ lệ đực cái 1:1

– Nuôi vỗ thành thục tôm mẹ trong bể 100 lít – 150 lít (mỗi con tôm mẹ 1 bể) để dễ dàng chăm sóc.

Cắt mắt: Có nhiều cách để cắt mắt (dùng kẹp để cắt mắt, buộc cuốn mắt hay bóp cầu mắt). Khi thực hiện các phương pháp này phải chọn tôm ăn mạnh và đã lột xác ít nhất 5 ngày. Cắt mắt nhằm thúc đẩy sự thành thục mau chóng hơn thông qua tác động của tuyến nội tiết.

Dinh dưỡng: Bao gồm ốc mượn hồn, mực, trai, hào, sò và gan heo hay gan bò, lượng cho ăn chiếm từ 20 – 30% trọng lượng cơ thể, thời gian cho ăn chia làm 8 lần trong ngày/đêm (cứ 3 giờ cho ăn 1 lần). Chú ý không nên để thức ăn quá 2 giờ).

Môi trường: Cho vận hành hệ thống lọc sinh học đảm bảo thay 200 – 300% lượng nước trong bể nuôi vỗ trong 1 ngày đêm, nhiệt độ 28 – 300C, độ mặn 30 – 33%o.

Kiểm tra sự thành thục: Sau cắt mắt 3 ngày kiểm tra khi thấy bề rộng buồng trứng trên 5 mm thì chọn cho đẻ.

Cho tôm đẻ: Bể cho tôm đẻ có hình tròn thể tích 0,5 – 1 m3, mức nước trong bể sâu 70 cm, bể được xử lý Formalin 150 ppm trong 30 phút, mỗi bể chứa 1 con cái, bể đẻ phải được sục khí liên tục nhẹ đều. Trứng sẽ nở sau khi đẻ 12 – 15 giờ; định lượng ấu trùng sau khi nở để chủ động bể ương và thuận lợi kiểm soát trong quá trình chăm sóc. tag: may suc khi o2-turbine

Môi trường nuôi tôm mẹ phải bảo đảm các yếu tố sau:

– Độ mặn 28 – 35%o; nhiệt độ nước 25 – 300C; pH 7,5 – 8,5; KH 100 – 120; chu kỳ chiếu sáng tự nhiên; cường độ chiếu sáng (lux); ô xy hoà tan (ppm) >5; đạm tổng (ppm) < 0,5; nitrite (ppm) < 0,1.

– Hàng ngày thay nước 100 – 100%, ít nhất 60 – 70% hoặc dùng lọc sinh học tuần hoàn, mực nước trong bể nuôi vỗ 0,3 – 1m, tránh tiếng ồn hay động tôm, không làm sốc hay gây tổn thương cho tôm, tạo điều kiện thuận lợi cho tôm phát dục thành thục tốt.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nuoi-vo-tom-su-bo-me-theo-qui-trinh-loc-sinh-hoc-3958.html

Kinh Nghiệm Nuôi Tôm Sú Trên Ao Nổi Ở Trà Vinh

Thạc sỹ Trần Hoàng Phúc – Giám đốc Trung tâm Khuyến ngư tỉnh Trà Vinh đã đầu tư xây dựng mô hình nuôi tôm sú thâm canh trong ao nổi, vụ nuôi đầu tiên đạt được hiệu quả rất tốt, xin giới thiệu để bà con tham khảo.

Kinh Nghiệm Nuôi Tôm Sú Trên Ao Nổi Ở Trà Vinh

1.Quy mô công trình

+ Tổng diện tích khu nuôi là 3,6 ha, được chia làm 8 ao gồm 1 ao láng diện tích 1 ha, 6 ao nuôi diện tích 2ha, 1 ao xử lí nước thải 0,6 ha. Ngoài ra có cống cấp, thoát nước riêng biệt để thuận lợi trong quá trình nuôi.

+ Các ao lắng, ao nuôi được trải bạt nilon xung quanh để chống sạt lở bờ, chống rò rỉ nước từ bên trong ra ngoài, ngăn cách lớp phèn từ bên ngoài thấm vào bên trong ao nuôi. Ngoài ra ao lắng có sử dụng thả nuôi cá rô phi để cải thiện môi trường nước.

+ Trang bị đầy đủ như máy bơm nước, hệ thống cung cấp oxy (quạt nước), các loại máy đo pH, độ kiềm, độ mặn, độ trong…và các dụng cụ khác phục vụ cho nuôi tôm. Sử dụng các loại hóa chất trong quá trình nuôi như: Chất khoáng, Dolomite, chế phẩm sinh học, vitamin, men vi sinh…

2. Cải tạo, lấy nước và xử lí nước

Thực hiện cải tạo nuôi theo mô hình chung

Cải tạo ao: Bơm cạn nước, sên vét bùn đáy và cán cho nền đáy bằng phẳng có độ dốc nghiêng về cống thoát, có rào lưới xung quanh bờ chống cua, rẹm, còng và các vi sinh vật khác vào ao nuôi. Sau đó tiến hành bón vôi với liều lượng 1 tấn/ha để ổn định pH đáy ao, bón Dolomite khoảng 300kg/ha giúp tăng độ kiềm và ổn định pH cho ao nuôi.

Lấy nước và xử lí nước: Lấy nước vào ao nuôi qua túi lọc bằng vải katê nhằm ngăn chặn không cho trứng và ấu trùng và các loài giáp xác, cá con và các địch hại khác vào ao. Bón phân gây màu nước sử dụng từ 10-15kg DAP/1.000m2 để gây màu nước đến khi thấy nước có màu xanh vỏ đậu tiến hành thả giống. tag: máy sục khí o2-turbine

3.Chọn và thả giống

Tôm giống phải sạch bệnh, chất lượng tốt, cỡ đồng đều, phản ứng nhanh nhẹn, mắt mở, đuôi xòe, không có chất bẩn bám trên tôm, kích cỡ từ 1,2-1,5cm. Mật độ thả 30con/m2, độ mặn nước ao từ 8-15 phần nghìn. Tổng số giống thả 600.000 con.

4. Chăm sóc và quản lí ao nuôi.

a.Quản lí môi trường: Thực hiện đo pH 2 lần/ngày (6giờ sáng và 2 giờ chiều) để kiểm soát pH thích hợp 7-8,5.

b.Quản lí phiêu sinh vật trong ao: Thường xuyên quan sát màu nước để duy trì sự phát triển của phiêu sinh vật, độ trong thích hợp từ 30-40cm. Khi có dấu hiệu nước bị bẩn (tảo tàn) bổ sung thêm DAP với liều lượng từ 3-4kg/ha, ngoài ra còn sử dụng Dolomite theo định kỳ 7 ngày/lần với liều lượng 50kg/ha để ổn định môi trường ao nuôi.

5. Cho ăn và quản lí sức khỏe của tôm

+ Sử dụng thức ăn công nghiệp cao cấp có hệ số chuyển đổi thức ăn 1:1,5 (1 kg tôm thương phẩm tiêu tốn 1,5kg thức ăn).

+ Hàng ngày thường xuyên theo dõi hoạt động của tôm, kiểm tra mức độ thức ăn của tôm để điều chỉnh phù hợp và hạn chế để thức ăn dư thừa

+ Trong quá trình nuôi đến khi thu hoạch, tỷ lệ sống đạt hơn 80%, chỉ bị hao hụt ở giai đoạn mới thả.

6. Năng suất và hiệu quả kinh tế

Đây là vụ nuôi đầu tiên trên vùng đất chuyển đổi từ hoang hóa và trồng lúa kém hiệu quả chuyển sang phát triển nuôi trong năm 2003. Sau thời gian nuôi 4 tháng cho thu hoạch, kích cỡ tôm trung bình 40 con/kg. Năng suất bình quân đạt 6 tấn/ha, sau khi trừ chi phí thực lãi hơn 200 triệu đồng. tag: may suc khi o2-turbine

Kinh nghiệm thạc sỹ Trần Hoàng Phúc rút ra:

Nuôi tôm sú trong ao nổi tiết kiệm được hơn 40% diện tích đất nạo vét so với ao chìm. Mặt nước hữu hiệu lớn, thuận lợi cho công tác cải tạo ao hồ cũng như thu hoạch dễ dàng. Với loại hình ao nuôi này còn làm giảm việc đào xới trong quá trình thi công, lượng phèn tiềm tàng không phát triển được sẽ hạn chế tối đa tác động xấu cho môi trường khu vực nuôi. Xung quanh bờ ao có trải bạt nilon, có trang bị máy quạt nước (cung cấp thêm oxy) nên khi gặp trời mưa giảm được lớp phèn độc trôi xuống ao. Nhờ phát triển mô hình nuôi tôm sú thâm canh trên ao nổi có nhiều ưu điểm hơn ao chìm truyền thống, nên đến nay cánh đồng ấp Mỹ Quý, xã Hiệp Mỹ, huyện Cầu Ngang (Trà Vinh) đã hình thành được hơn 20 trang trại nuôi đều cho kết quả tốt.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/kinh-nghiem-nuoi-tom-su-tren-ao-noi-o-tra-vinh-3937.html