Monthly Archives: January 2018

Quy trình nuôi tôm vi sinh

Chuẩn bị ao nuôi

Quy trình nuôi tôm vi sinh

Tháo cạn nước ao nuôi và ao chứa, loại bỏ địch hại có trong ao, vét bùn đáy ao. Sau đó bón vôi bột nông nghiệp liều lượng tùy theo pH của đất, cụ thể:

Sau đó phơi đáy ao 20 – 30 ngày. Với những ao không được phơi đáy, bơm cạn nước tối đa có thể, dùng máy cào chất thải về góc ao, bơm chất thải ra ngoài, sau đó bón vôi với liều lượng như bảng trên. tag: pha dung dịch thuỷ canh

Lấy nước vào ao chứa qua túi lọc bằng vải dày nhằm loại bỏ rác, ấu trùng, tôm, cua, còng, ốc, côn trùng, cá tạp, để ổn định 3 – 7 ngày. Chạy quạt nước liên tục 2 – 3 ngày để kích thích trứng tôm, ốc, côn trùng, cá tạp nở thành ấu trùng.

Diệt tạp, diệt khuẩn nước cấp trong ao chứa vào khoảng 8 giờ hoặc 16 giờ hằng ngày, bằng một số hóa chất (Chlorine, thuốc tím, BKC hoặc Iodine) theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Sau đó lấy nước vào ao nuôi qua túi lọc.

Sử dụng chế phẩm vi sinh của các công ty có uy tín, nguồn gốc rõ ràng (như TA-GOLD, Rhodo powder, Pro BCS….) ủ với cám gạo, mật đường, bột đậu nành… trước khi tạt vào ao nuôi để gây màu nước.

Kết hợp với đánh vôi Dolomite + CaCO3 liều lượng 20 kg/1.000 m3 để ổn định môi trường ao nuôi. Kiểm tra và điều chỉnh các yếu tố môi trường nước ao nuôi đảm bảo trong ngưỡng thích hợp trước khi thả giống.

Chọn và thả giống

Tôm giống phải đạt cỡ (1,2 – 1,5 cm), sau khi chọn lọc bằng cảm quan. Các yếu tố môi trường đạt rồi thì tiếp tục mang mẫu tôm đi xét nghiệm các bệnh đốm trắng, đầu vàng và MBV bằng phương pháp PCR hoặc mô học.

Mật độ thả tôm sú 20 – 30 con/m2, tôm thẻ chân trắng 40 – 80 con/m2.

Tôm giống phải được thuần nhiệt độ, độ mặn và pH phù hợp nước ao nuôi. Thả tôm xuôi theo gió, nhiệt độ nước thích hợp nhất để thả tôm là 26 – 280C.

Chăm sóc, quản lý

Trong 2 tháng đầu nên cấy một trong số các loại vi sinh (Eco Pro, BIO POWER, Super VS, CP Bio plus, enzyme HN) định kỳ 10 – 15 ngày/lần. Từ tháng nuôi thứ 3, xử lý vi sinh định kỳ 20 – 25 ngày/lần .

Cách sử dụng vi sinh hiệu quả là phải biết nhìn màu nước để biết cách sử dụng liều lượng và có thể rút ngắn thời gian xử lý để có hiệu quả nhất. Định kỳ mang mẫu nước đi xét nghiệm tảo và vi khuẩn trong ao làm cơ sở cho việc sử dụng vi sinh.

Nhờ xét nghiệm mẫu nước, ta còn có thể biết được vi sinh đang sử dụng có hiệu quả hay không, vì hiện nay trên thị trường có nhiều sản phẩm vi sinh giả.

Đảm bảo ôxy hòa tan trong nước luôn > 4 ppm. Duy trì pH 7,5 – 8,5. Đồng thời dùng vôi với lượng 25 kg/1.000 m2 để điều chỉnh độ kiềm trong khoảng 70 – 120 ppm và độ trong 25 – 40 cm.

Trong quá trình nuôi, nếu gặp trường hợp tảo tàn đột ngột, nhiệt độ tăng cao, tôm lột xác đồng loạt, cần tăng cường chạy quạt, giảm thức ăn và dùng vôi kết hợp vi sinh để ổn định môi trường nước. Định kỳ 7 – 10 ngày, lấy nước tầng đáy kiểm tra chất lượng.

Khi pH > 8,5, khắc phục bằng cách sử dụng mật đường với lượng 3 kg/1.000 m3 kết hợp sử dụng vi sinh theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Định kỳ 10 ngày/lần bón vôi nông nghiệp CaCO3 lúc 20 – 21 giờ với liều 10 – 20 kg/1.000 m3 tùy theo độ pH và tiến hành cấy vi sinh vào 11 – 12 giờ trưa hôm sau theo hướng dẫn của nhà sản xuất để làm sạch môi trường.

Thức ăn và cách cho ăn

Tôm có khuynh hướng ăn ở những nơi được làm sạch bằng quạt nước, vì vậy cho ăn xung quanh vị trí ao được quạt nước làm sạch, tránh rải thức ăn vào nơi dơ bẩn. Việc sử dụng sàng ăn rất quan trọng để kiểm tra tình trạng tôm sử dụng thức ăn. Sàng ăn nên đặt sát đáy ao, nơi sạch sẽ và hơi xa bờ ao.

Cho tôm ăn theo hướng dẫn của nhà sản xuất nhưng cần phải điều chỉnh tăng hoặc giảm theo chu kỳ lột vỏ, theo môi trường nước và đặc biệt là theo sức khỏe tôm. Phải điều chỉnh thời gian thăm nhá và lượng thức ăn bỏ vào nhá hợp lý theo từng thời điểm môi trường và theo trọng lượng thân.

Điều chỉnh thức ăn trong ngày qua theo dõi lượng thức ăn thừa trên sàng ăn. Có thể phối trộn sản phẩm bổ sung như men tiêu hóa (T-Food, Sitto), khoáng chất, Vitamin C… vào thức ăn.

Phối trộn Vitamin C vào thức ăn cho tôm 1 – 2 lần/ngày với lượng 30 mg/kg thức ăn; nếu tôm có hiện tượng hơi yếu, một số con bị cong thân, có thể tăng gấp đôi.

Trộn men tiêu hóa cho tôm nuôi 2 lần/ngày, mỗi lần 3 – 5 g/kg thức ăn.

Ngoài ra định kỳ 10 ngày/lần, mỗi lần liên tục 3 – 5 ngày, dùng thảo dược có tác dụng giúp giải độc gan, liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Trong thời gian nuôi, từ 20 đến 60 ngày tuổi có thể bổ sung thuốc bổ, thuốc đường ruột, trộn vào thức ăn để tăng sức đề kháng cho tôm.

Chuyển đổi loại thức ăn phù hợp theo giai đoạn phát triển, cỡ miệng tôm và nhu cầu dinh dưỡng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Khi chuyển đổi thức ăn, nên trộn lẫn 2 loại thức ăn cũ và mới, cho ăn ít nhất 3 ngày. tag: pha dung dịch thuỷ canh

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/quy-trinh-nuoi-tom-vi-sinh-36591.html

Cách nào để tôm sạch

Tuy nhiên, sản phẩm tôm cũng đứng trước những thách thức, trước tiên là yêu cầu nâng cao chất lượng, đáp ứng quy tắc xuất xứ, trong đó, tôm phải đảm bảo không hóa chất, kháng sinh. tag: pha dung dịch thuỷ canh

Báo động

Theo Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản, thực hiện chương trình giám sát và hoạt động kiểm tra chứng nhận lô hàng xuất khẩu, năm 2014, phát hiện gần 1,19% mẫu vi phạm. Cụ thể, phân tích 2.104 mẫu, phát hiện 25 mẫu có dư lượng vượt mức tối đa cho phép. Tỷ lệ này cao hơn tỷ lệ 0,78% của năm 2013.

Số lô hàng bị cảnh báo các chỉ tiêu về hóa chất kháng sinh ở Mỹ và EU năm 2014 đã tăng hơn rất nhiều lần so với năm 2013, theo thứ tự là 44 và 26 so với 2 và 1. Thị trường Nhật Bản, năm 2014 có giảm so với năm 2013 nhưng vẫn còn cao với 22 lô hàng. Đặc biệt, trong 4 tháng đầu năm 2015, số lô hàng bị cảnh báo ở Mỹ lại rất cao là 25 so với 44 lô hàng của cả năm 2014.

Thị trường Nhật Bản, năm 2014 cảnh báo chỉ tiêu Oxytetracycline 10 lô hàng và AOZ 4 lô hàng, tăng đột biến so với năm 2013 không có lô hàng nào.

Trong 4 tháng đầu năm 2015, chỉ tiêu Enrofloxacin cũng đáng báo động. Còn thị trường Mỹ, 44 lô hàng bị cảnh báo năm 2014 đều tồn dư hóa chất cấm và thuốc thú y; các lô hàng bị cảnh báo đầu năm 2015 cũng không đảm bảo an toàn thực phẩm liên quan đến các chỉ tiêu hóa chất kháng sinh.

Đánh giá của Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản: “Trong năm 2014, một số doanh nghiệp chế biến xuất khẩu tôm đã mất kiểm soát và cơ quan thẩm quyền của các thị trường cũng tập trung kiểm tra các chỉ tiêu về hóa chất kháng sinh đối với các lô hàng tôm và thủy sản nuôi nói chung.

Sau khi Bộ NN&PTNT triển khai các biện pháp đồng bộ vào cuối năm 2014, tình hình cảnh báo hóa chất kháng sinh đối với lô hàng tôm của Việt Nam tại thị trường EU có xu hướng giảm trong 4 tháng đầu năm 2015, tuy nhiên tại thị trường Mỹ còn rất cao so với cả năm 2014”.

Hành động ngay

Theo bà Nguyễn Thị Hồng Vân, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), tính đến cuối năm 2014, Việt Nam xuất khẩu tôm đứng thứ nhất vào Nhật Bản, thứ ba vào Mỹ, thứ tư vào EU. Thực tế, nước ta vẫn phải nhập một lượng lớn tôm nguyên liệu để chế biến, chủ yếu từ Ecuador và Ấn Độ. Giá trị tôm nhập khẩu chiếm 80% trong tổng số khoảng 800 triệu USD thủy sản nguyên liêu nhập khẩu năm 2014.

Tôm nước ta đang có giá thành cao hơn so với các nước khác 1 – 2 USD/kg. Tuy nhiên, rào cản kháng sinh là trở ngại lớn nhất đối với tôm Việt Nam, đặc biệt trên thị trường Nhật Bản.

Để ngăn chặn tình trạng tôm xuất khẩu tồn dư hóa chất kháng sinh, Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản áp dụng cơ chế kiểm tra từng lô đối với chỉ tiêu bị cảnh báo trước khi xuất khẩu sang các thị trường.

Bộ NN&PTNT đã ban hành chỉ thị yêu cầu thực hiện các biện pháp đồng bộ, cấp bách kiểm soát tồn dư hóa chất kháng sinh trong sản xuất và xuất khẩu thủy sản.

Cục Thú y đang tập trung hướng dẫn người nuôi không sử dụng hóa chất kháng sinh cấm, tuân thủ thời gian sử dụng thuốc thú y trước khi thu hoạch. Tổng cục Thủy sản tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm về sử dụng hóa chất kháng sinh cấm trong nuôi trồng.

Còn các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu tôm, rà soát chế độ tự kiểm tra với các lô nguyên liệu tiếp nhận chế biến, nhất là giám sát được những cơ sở nuôi cung cấp nguyên liệu, đảm bảo truy xuất nguồn gốc.

Tại thị trường EU, năm 2014, số lô hàng bị cảnh báo các chỉ tiêu vi sinh vật rất thấp trong năm 2012, 2013 hoặc không có trong năm 2014, thì chỉ trong 4 tháng đầu năm 2015, đã bị cảnh báo 5 lô hàng (chủ yếu Vibrio, Salmonela). tag: phần mềm pha dung dịch thuỷ canh

Những quy tắc cần ghi nhớ để có vụ tôm thành công

Do đó, để giảm thiệt hại do dịch bệnh, góp phần mang lại vụ tôm thành công, người nuôi tôm cần tuân thủ những quy tắc cơ bản trong quy trình kỹ thuật nuôi tôm.

Những quy tắc cần ghi nhớ để có vụ tôm thành công

Trước khi bước vào vụ tôm mới, người nuôi tôm cần phải có thời gian để nền đáy ao tôm hồi phục, cải tạo ao đầm…, cụ thể, bà con chỉ nên thả nuôi nuôi 1 vụ/năm đối với tôm sú, và 2 vụ/năm đối với nuôi tôm thẻ chân trắng. tag: pha dung dịch thuỷ canh

Về các yêu cầu kỹ thuật cần tuân thủ để có mùa tôm thắng lợi trong vụ tôm mới, bà con cần phải sên vét lại ao nuôi, loại bỏ lớp bùn đen ra khỏi ao (đối với ao cũ), tiến hành cải tạo bằng cơ giới hóa (áp dụng đối với ao cũ và ao mới) đảm bảo các tiêu chí sau: ao diện tích thích hợp từ 0,3 – 0,5 ha, độ sâu tối ưu đạt 1,2 – 1,5 m.

Tiếp theo, tiến hành bón vôi CaO hoặc CaCO3 với liều lượng khuyến cáo từ 700 – 1.000 kg/ha (pH đất > 6), phơi ao 7 – 10 ngày với mục đích tiêu diệt hết mầm bệnh của vụ nuôi trước.

Đối với việc lấy và xử lý nước, bà con cần có ao lắng với tỷ lệ khoảng 30% tổng diện tích chủ động việc cấp nước vào ao nuôi. Bên cạnh đó, bà con phải thường xuyên theo dõi kết quả quan trắc môi trường khi cần lấy nước vào ao.

Nước cấp vào ao nuôi cần cho qua qua túi lọc và xử lý thông qua ao lắng bằng cách để nước 3 – 5 ngày kết hợp với quạt nước để trứng giáp xác nở hết, sau đó bà con tiến hành diệt tạp bằng saponin với liều lượng 15 – 20 kg/1000m3 hoặc một số sản phẩm được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép sử dụng; diệt khuẩn, virus trong ao bằng Chlorine với liều lượng 25 – 30kg/1.000m3, Formol với liều lượng 20 – 30lít/1000 m3 hoặc thuốc tím (KMnO4) với liều lượng 5 – 8 kg/1000 m3.

Đối với việc gây màu nước, bà con có thể sử dụng các sản phẩm có chứa các thành phần chủ yếu như các vi sinh vật có lợi (nhóm Bacillus subtilis, Lactobacillus…), các vitamin, axit amin thiết yếu theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Đối với những ao khó gây màu bà con có thể sử dụng các chế phẩm sinh học kết hợp với bón phân urê (2 – 3 kg/1000 m3), bột cá (0,5 – 1 kg/1000 m3) liên tục vài ngày đến khi ao nuôi đạt các tiêu chuẩn như độ trong (30 – 40 cm), pH (7,5 – 8,5), độ kiềm (80 – 120 ppm), khí độc (< 0,1 ppm)… tạo cho ao nuôi có màu xanh lục, vàng khuê thì có thể tiến hành thả tôm giống.

Chọn tôm sú giống, cần chọn con giống đạt chuẩn Post 15, đồng thời thử chất lượng tôm giống bằng cảm quan với các tiêu chí như kích cỡ đồng đều, đường ruột to, tỉ lệ ruột/cơ đạt chuẩn 1/4, bơi lội linh hoạt. Kế tiếp tiến hành gây sốc bằng cách hạ đột ngột độ mặn chỉ còn 50% (ví dụ từ 20‰ xuống 10‰), hoặc sốc Formol với liều lượng 2 lít/10 lít nước trong 1 giờ, nếu tỉ lệ sống tôm trên 90% là đạt yêu cầu.

Sau đó tiến hành kiểm dịch tôm giống bằng phương pháp PCR tại các cơ quan kiểm dịch giống thủy sản của các tỉnh/thành để chắc chắn tôm giống khỏe mạnh, không mang mầm bệnh;

Đối với tôm thẻ chân trắng, tốt nhất nên chọn tôm giống Post 12, tôm giống trong đàn có độ đồng đều cao, đồng thời áp dụng các phương pháp chọn tôm giống tương tự như đối với tôm sú.

Về việc thả giống, bà con nên yêu cầu các trại giống thuần hóa độ mặn giữa trại ương tương ứng với độ mặn trong ao nuôi. Khi thả tôm giống cần chọn thời điểm trời mát (buổi sáng hay chiều tối) và tiến hành ngâm bao tôm vào nước khoảng 30 phút để cân bằng nhiệt độ giữa nước tôm trong bọc và ao nuôi trước khi thả.

Mật độ thả nuôi nên ở mức từ 20 – 30 con/m2 đối với tôm sú, và từ  60 – 80 con/m2 đối với tôm chân trắng; không nên thả quá dày sẽ khó quản lý, dễ xảy ra dịch bệnh, rủi ro cao.

Quản lý môi trường nước ao nuôi tôm

Trong quá trình nuôi, nếu ao tôm bị thiệt hại do bệnh do virus, vi khuẩn thì bà con cần tiến hành tiêu diệt mầm bệnh bằng hóa chất thường dùng như: Chlorine liều lượng 25 – 30kg/1.000m3 nước, Formol liều lượng 20 – 25 lít/1.000m3 nước, Benzalkonium Chlorine (BKC) liều lượng 2 – 3 lít/1.000m3 nước. Sau đó thu gom xác tôm, cua còn sót lại ra khỏi ao, sau 2 – 3 ngày bơm nước ra khỏi ao.

Tiếp theo, bón vôi CaO hoặc CaCO3 với liều lượng khuyến cáo từ 700 – 1.000kg/ha (pH đất > 6), rồi tiến hành phơi ao (khoảng 1 – 2 tháng) với mục đích tiêu diệt hết mầm bệnh của vụ nuôi trước.

Đối với những ao đang nuôi, cần hạn chế tối đa việc cấp nước, chỉ xả bớt nước mặt khi trời mưa to.

Phải thường xuyên theo dõi diễn biến thời tiết, môi trường để có biện pháp quản lý tôm nuôi phù hợp, bổ sung một số khoáng chất cần thiết, nhất là nhóm hỗ trợ chức năng gan, tăng cường hệ miễn dịch nhằm tăng cường sức đề kháng cho tôm, đồng thời theo dõi kết quả quan trắc môi trường và mầm bệnh để kịp thời có kế hoạch chủ động phòng, chống dịch bệnh.

Cần quản lý chặt chẽ các yếu tố môi trường nước ao nuôi như: pH, ôxy hòa tan, độ kiềm, NH3, độ trong… để đảm bảo các chỉ tiêu này luôn trong ngưỡng thích hợp nhất, đặc biệt là mật độ tảo (độ trong) cần giữ ổn định trong suốt thời gian nuôi. Hàng ngày, thường xuyên theo dõi, kiểm tra sức khỏe tôm nuôi, nếu phát hiện dấu hiệu bệnh cần xử lý kịp thời để hạn chế thiệt hại. Khi trời mưa nên bón vôi trên bờ ao và bón trực tiếp xuống ao để hạn chế sự thay đổi pH.

Trong quá trình nuôi chỉ sử dụng thức ăn có chất lượng cao, cho tôm ăn đúng với nhu cầu sử dụng của tôm, không sử dụng thức ăn hết hạn sử dụng hoặc bị mốc để cho tôm ăn. Trong khẩu phần ăn của tôm cần thường xuyên hay định kỳ bổ sung thêm Vitamin C, khoáng chất, men tiêu hóa… để tăng cường sức đề kháng cho tôm.

Trong mọi trường hợp cần tránh xáo động môi trường nước ao nuôi, nhất là tránh quan điểm ao tôm không có màu thì gây tảo, ngược lại tảo dày thì cắt mà cần chú ý đến điều kiện đất đai, thời tiết để tránh rủi ro cho ao tôm. Bởi tùy theo chất đất, độ mặn, thời tiết mùa vụ mà màu nước sẽ tương ứng theo, quan trọng là tôm sống được, ăn được và phát triển được.

Thực tế có những ao tôm chỉ vì màu nước quá sậm không “hợp nhãn” chủ ao mà phải cắt tảo làm cho tôm ngộp oxy, ảnh hưởng đến sức khỏe tôm, thậm chí có trường hợp tôm bị chết. Trong trường hợp cần dùng hóa chất để xử lý nước ao tôm phải chú ý đến vấn đề giải độc cho tôm, trước khi gây tảo phải tạo hệ đệm trước thì việc quản lý ao tôm mới thành công.

Khi tôm có những biểu hiện bệnh, người nuôi cần lấy mẫu tôm bệnh đem đến các phòng xét nghiệm bệnh tôm bằng PCR để xác định đúng nguyên nhân gây bệnh, và có những biện pháp phòng ngừa phù hợp.

Đặc biệt, đối với bệnh virus, người nuôi phải báo ngay cho Trạm thú y, Trạm Thủy sản địa phương, Phòng Nông nghiệp và PTNT hoặc UBND xã để được hướng dẫn cách ly và hỗ trợ hóa chất tiêu hủy kịp thời theo đúng quy định;

Đối với những ao nuôi đã thu hoạch xong, nước thải và các chất thải rắn phải được bơm vào khu vực riêng dành để chứa bùn và chất thải; riêng nước thải phải được xử lý trước khi thải ra các sông rạch tự nhiên, đồng thời phải thông báo cho những hộ xung quanh biết để hạn chế khả năng lây lan mầm bệnh. tag: phần mềm pha dung dịch thuỷ canh

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nhung-quy-tac-can-ghi-nho-de-co-vu-tom-thanh-cong-36596.html

Kỹ thuật nuôi ba ba giống

Có người bán loại từ mới nở đến 1 tháng tuổi là chính, có người mua loại mới nở về ương thành con giống cỡ 15-20g hoặc từ 50-150g để bán kiếm lời, có người mua giống nhỏ về ương thành giống lớn hoặc mua giống về nuôi thành ba ba thịt. tag: pha dung dịch thuỷ canh

Kỹ thuật nuôi ba ba giống

Từ năm 1996 trở về trước, giống ba ba khá đắt nhưng vẫn không đủ cung cấp cho người nuôi. Sang năm 1997, giá ba ba giống giảm hơn các năm trước, một phần do ảnh hưởng của giá ba ba thịt giảm, một phần do nhiều người sản xuất, lượng ba ba giống trên thị trường nhiều hơn các năm trước, đồng thời cũng bị ảnh hưởng ít nhiều của ba ba giống nhập nội thấp.

Những năm tới muốn phát triển sản xuất ba ba giống có lãi nhiều cần đặc biệt lưu ý áp dụng tiến bộ kỹ thuật để tăng năng suất, hạ giá thành sản xuất ba ba giống.

Sản xuất ba ba giống gồm 3 khâu kỹ thuật chủ yếu: nuôi vỗ ba ba bố mẹ sinh sản, thu trứng, ấp trứng, và ương nuôi ba ba giống.

Dưới đây chúng tôi xin lần lượt giới thiệu những tiến bộ kỹ thuật đã được tổng kết, nên mở rộng việc áp dụng.

1. Nuôi vỗ ba ba bố mẹ (nuôi ba ba sinh sản, nuôi ba ba đẻ trứng)

Chỉ tiêu chính đánh giá trình độ kỹ thuật của khâu này là năng  suất đẻ trứng và tỷ lệ trứng thụ tinh cao. Năng suất đẻ trứng còn nhiều người mới đạt mức trên dưới 20 trứng trên 1kg ba ba cái trong 1 năm, trong lúc những người nuôi có kỹ thuật tốt đã đạt 45-50 trứng.

Tỷ lệ trứng thụ tinh, nhiều người mới đạt mức trên dưới 50% số trứng ba ba đẻ ra và thu được, trong lúc người có kỹ thuật tốt đạt trên dưới 80% vào đầu vụ và trên 90% vào chính vụ, có những người nuôi ít, đạt 95-100%. Số người chưa đạt các mức trung bình trên cũng còn khá nhiều.

Muốn đạt các chỉ tiêu cao cần thực hiện tốt các vấn đề kỹ thuật sau:

a. Xây dựng ao nuôi: phù hợp với các yêu cầu sinh sản của ba ba.

b. Làm tốt công tác chuẩn bị ao nuôi: Ao, bể mới xây cần ngâm rửa nhiều lần, thử nước đảm bảo độ pH thích hợp (từ 7-8) mới thả ba ba vào. Ao nuôi sau một vụ, trước khi nuôi vụ mới cần tẩy dọn sạch để diệt mầm bệnh. Khi thấy cần thiết, phải thay lớp bùn cát đã bị thối bẩn nặng.

c. Nuôi đúng thời vụ:

Các tỉnh phía Bắc phải bắt đầu nuôi vỗ từ tháng 8, tháng 9 để đến khi bắt đầu rét, ba ba bố mẹ đã béo khỏe, sang Xuân chuyển hóa tuyến sinh dục nhanh, đẻ sớm. Sau khi đẻ xong lứa thứ nhất, tiếp tục nuôi vỗ để ba ba đẻ các lứa thứ 2, 3, 4,…

Các tỉnh phía Nam có thể nuôi vỗ cho đẻ quanh năm, nhưng nên nuôi vỗ sớm để ba ba đẻ tập trung các tháng từ tháng 1 đến tháng 2, tránh cho ba ba đẻ vào các tháng có nhiệt độ cao.

d. Chọn ba ba bố mẹ: có các tiêu chuẩn tốt về hình dạng, sức khỏe và quy cỡ. Không sử dụng ba ba đã có bệnh. Cỡ chọn nuôi nên từ 1kg trở lên với ba ba hoa, 2kg trở lên với ba ba gai. Trong phạm vi 4kg trở lại, cỡ nuôi càng lớn chất lượng trứng càng tốt, ba ba con nở ra càng khỏe và mau lớn. Ba ba đực cái thả chung một ao, nhưng phải đồng cỡ, tránh thả lẫn một số con lớn gây uy hiếp đối với những con nhỏ. Số lượng nuôi 1 ao cần thả đủ 1 lần, không thả rải rác.

e. Phối ghép tỷ lệ đực/cái thích hợp: Hiện nay nhiều người cho rằng tỷ lệ thích hợp nhất là 1/2,5-3 (một con đực ghép với 2,5 đến 3 con cái). Tuy nhiên, có một số người nuôi ghép tỷ lệ 1/4 đến 1/5 vẫn đạt kết quả tỷ lệ trứng thụ tinh cao. Thả nhiều ba ba đực có hại vì chúng hay cắn nhau sinh bệnh, hay quấy nhiễu ba ba cái làm ba ba cái sinh sản không bình  thường, lại vừa tốn thức ăn.

f. Lựa chọn mật độ nuôi thích hợp: Những năm qua đã có người nuôi mật độ cao tới 2-3kg/m2, nhưng trong điều kiện nuôi bình thường, mật độ nuôi phổ biến và thích hợp chỉ nên từ 0,5-1kg/m2 hoặc 0,5-1 con/m2. Nuôi mật độ dày hơn, điều kiện cho ăn và thay nước không đầy đủ, ba ba đẻ kém, dễ sinh bệnh.

g. Chăm sóc và quản lý tốt.

2. Thu trứng và ấp trứng ba ba:

Trứng ba ba ấp nở tự nhiên tỷ lệ nở rất thấp, thời gian ấp nở lâu.

Muốn ấp nở nhanh, tỷ lệ nở cao cần phải có kỹ thuật.

Hiện nay, những người sản xuất giỏi có thể đạt tỷ lệ nở trên dưới 90%, có người đạt 100% so với số trứng thụ tinh đem ấp và rút ngắn được thời gian ấp nở từ 5-10 ngày so với bình thường.

Muốn ấp nở tốt, trước hết phải biết kỹ thuật thu trứng. Nên theo dõi ba ba đẻ, thu trứng vào các buổi sáng, lúc ba ba đẻ rộ thu hàng ngày, lúc ba ba đẻ thưa 3-5 ngày thu 1 lần, không nên để ba ba đẻ sau 15-20 ngày mới thu trứng đem ấp.

Các quả trứng nhỏ, hình dạng không bình thường và trứng không thụ tinh cần loại ngay, chỉ giữ trứng thụ tinh để ấp. Trứng thụ tinh phần lớn tròn, vỏ trứng có màu sắc bình thường, phần trên màu trắng là túi chứa hơi để phôi thở, phần dưới màu phớt hồng là phần phôi và noãn hoàn  (lòng đỏ trứng).

Trứng hỏng (không thụ tinh) màu sắc không bình thường, hay có vết đốm loang lỗ, không phân biệt rõ 2 phần như trứng thụ tinh. Cần ghi chép các số liệu từng ao nuôi về ngày đẻ, ngày thu trứng ấp, số lượng trứng thu được, số lượng trứng thụ tinh,… để giúp cho việc xử lý kỹ thuật ấp và dự đoán kết quả nuôi vỗ, tỷ lệ nở,…

Cách ấp trứng:

Nên ấp trong nhà hoặc có phòng ấp riêng để tránh nhiệt độ thay đổi bất thường và bảo vệ được trứng. Dụng cụ ấp trứng thường dùng khay, chậu bằng nhôm, sắt tráng men hoặc bằng nhựa. Diện tích khay, chậu to nhỏ tùy theo số lượng trứng cần ấp. Một chậu rửa mặt thông thường có thể ấp trên dưới 100 trứng, một chậu nhôm to có thể ấp trên dưới 300 trứng.

Khay chậu ấp có chiều cao trên 10cm, trong đổ cát sạch mịn, ẩm và tơi xốp, lớp cát dày 7-8cm (cách miệng khay, chậu 3-4cm), đáy khay chậu có lỗ thoát nước để tránh cát ấp bị đọng nước làm hỏng trứng ấp.

Nhặt trứng thụ tinh rải đều trên mặt cát, quả cách quả 2cm, đầu có túi hơi để phía trên (chú ý không đặt ngược, không đặt nghiêng), khi đủ 1 lớp trứng thì lấy cát bột rải lên trên cho kín, lớp cát cao hơn trứng 2-3cm. Để khay trứng vào nơi yên tĩnh để ấp.

Nếu có điều kiện xác định, nên khống chế hàm lượng nước trong cát ẩm từ 7-10% (cát ẩm cho lên tay bóp vẫn rời không vón cục) và độ ẩm không khí trong phòng ấp khoảng 85%. Ngoài ấp phổ biến bằng khay, chậu, các cơ sở sản xuất lớn hàng ngàn, hàng chục ngàn trứng có thể xây phòng ấp, bể ấp chuyên hoặc dùng máy ấp trứng nhập từ nước ngoài.

Quản lý việc ấp trứng là nhiệm vụ rất quan trọng trong thời kỳ ấp từ 50-55 ngày.

Cần nhất là giữ cho nhiệt độ và độ ẩm cát ấp được ổn định. Cách 1-2 ngày lớp cát trên mặt bốc hơi bị khô, cần phun nước cho ẩm trở lại bình thường, nước phun cần từ từ, đặc biệt tránh dội nước làm cho nhiệt độ cát ấp bị thay đổi đột ngột, phôi trứng sẽ chết.

Trong những ngày mưa lớn hoặc ban đêm nhiệt độ không khí xuống thấp dưới 25oC, cần có biện pháp tăng nhiệt độ phòng ấp (nơi có điện có thể thắp bóng điện 100-200W để tỏa nhiệt, cần che đèn cho nhiệt độ tỏa đều, nếu không che có chỗ sẽ bị quá nóng, trứng sẽ bị chết). Những ngày quá nóng, phòng ấp nên để thoáng gió hoặc làm mát bằng quạt,…

Nhiệt độ ấp thích hợp nhất là ổn định từ 30-32oC, ở nhiệt độ này thời gian ấp chỉ 45-50 ngày; nhiệt độ ấp cao hơn 1-2 độ thời gian ấp có thể rút ngắn 4-5 ngày nhưng để không an toàn. Dưới 20oC và trên 35oC phôi trứng bị chết, ấp không nở được.

Khi thấy trứng sắp nở (mổ mỏ, có chỗ nứt vỏ) cần đặt khay nước sạch hoặc bát nước vào giữa khay, chậu ấp trứng, ba ba con nở ra biết tự bò vào nước; cũng có thể kê khay chậu ấp trứng trên 1 chậu to hoặc bể con, trong chậu hoặc bể chứa nước, ba ba con nở ra tự nhảy vào nước. Nếu không để sẵn nước, ban đêm chậm biết, ba ba con bị khô da sẽ chết.

Quá trình quản lý ấp trứng, có thể bới cát kiểm tra trứng, nhưng không được đảo trứng, đồng thời cần có các biện pháp bảo vệ không cho kiến, chuột, rắn, mèo, gà lọt vào ăn hại trứng và ba ba con.

Nhặt ba ba mới nở vào chậu nước sạch, chọn những con khỏe mạnh, đã “rụng rốn” để đưa vào bể ương.

3. Ương nuôi ba ba giống:

Để đảm bảo ương từ ba ba mới nở thành ba ba giống có tỷ lệ sống cao, nên chia thành 3 giai đoạn ương. Dưới đây chủ yếu giới thiệu kỹ thuật ương ba ba hoa.

Giai đoạn 1:  Ương từ lúc mới nở cỡ 4-6g thành cỡ 15-25g. Thời gian ương nhanh từ 25-30 ngày. Chăm sóc kém thời gian có thể kéo dài gấp đôi. Ba ba nở đầu vụ và giữa vụ, đúng mùa sinh trưởng ương lớn nhanh hơn ba ba nở cuối vụ.

Ba ba mới nở do quy cỡ còn nhỏ, sức yếu, cơ quan tiêu hóa chưa hoàn chỉnh nên cần được chăm sóc tỉ mỉ trong các bể nhỏ có diện tích từ 1m2  đến 10m2. Mức nước trong bể ương từ 10-15cm mấy ngày đầu tăng dần đến 40cm vào cuối tháng. Không nên để nước quá sâu vì ba ba con luôn phải ngoi lên mặt nước thở, tốn năng lượng, ảnh hưởng đến sức khỏe. Mặt bể có thể thả bèo tây non, sạch cho ba ba con nằm thở giáp mặt nước.

Mật độ ương trung bình 50 con/m2, có thể ương dày 100-150 con/m2 nhưng sau 10-15 ngày phải san thưa, cho ăn đầy đủ và thay nước luôn. Cho ăn trùng chỉ (giun đỏ), giun đất, thả vào khay đưa xuống bể cho ba ba ăn vào sáng sớm hoặc chiều tối. Quản lý chăm sóc tốt, tỷ lệ sống đạt 90-100%.

Giai đoạn 2:    Ương từ cỡ giống 15-25g thành cỡ giống 50-80g, thời gian ương nuôi cần 2-3 tháng với ba ba nở đầu vụ. Giai đoạn này tốt nhất vẫn nên ương trong bể xây cỡ 20-30m2 hoặc trong ao nhỏ cỡ 50-100m2. Mật độ ương trung bình 25-30 con/m2.

Cho ăn no đủ bằng giun đất, cá mè luộc chín, gỡ ra thả xuống bể cho ba ba vào sáng, chiều. Quản lý chăm sóc tốt có thể đạt tỷ lệ sống 90-100%. Ương nuôi kém, sau 3 tháng chưa đạt quy cỡ nêu trên.

Giai đoạn 3: Ương cỡ giống nhỏ 50-80g thành cỡ giống lớn 100-150g, con to trên 200g. Thời gian ương cần 2-3 tháng, nếu thả qua mùa đông thì mất 5-6 tháng. Giai đoạn này nuôi trong ao đất lớn nhanh hơn trong bể xây. Diện tích bể ương trên dưới 50m2, diện tích ao ương 100-150m2.

Mật độ ương trung bình 7-10 con/m2, cao nhất 15 con /m2. Cho ăn no đủ bằng cá mè luộc, gỡ cho ăn, cũng có thể cá băm nhỏ cho ăn vào sáng, chiều. Quản lý chăm sóc tốt, tỷ lệ sống có thể đạt 90-100%. tag: phần mềm pha dung dịch thuỷ canh

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/ky-thuat-nuoi-ba-ba-giong-36597.html

Cộng đồng sinh vật phù du trong hệ thống nuôi tôm độc canh, hệ thống tích hợp Biofloc

Mỗi tuần một lần trong 7 tuần, thực vật phù du đã được lấy mẫu ở 3 bể nuôi tôm độc canh và 9 bể của hệ thống tích hợp biofloc nuôi tôm và tảo. Tỉ lệ sống của tôm trên 89% trong thời gian thử nghiệm. Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) và trọng lượng tôm cuối cùng ở hệ thống biofloc tốt hơn hệ thống độc canh. tag: pha dung dịch thuỷ canh

Cộng đồng sinh vật phù du trong hệ thống nuôi tôm độc canh, hệ thống tích hợp Biofloc

Trong các hệ thống nuôi tôm thâm canh, cộng đồng vi khuẩn gồm vi khuẩn, tảo, động vật phù du và các vi sinh vật khác đóng các vai trò quan trọng trong chu kỳ dinh dưỡng, cung cấp các hợp chất dinh dưỡng như các axit béo cần thiết cho sự sống và tốc độ tăng trưởng của tôm.

Các hệ thống truyền thống kết hợp nuôi tôm và rong biển đã được đề xuất để thúc đẩy quá trình giảm chất thải cũng như vi khuẩn lam (cyanobacteria) và các loài gây hại khác do cạnh tranh các chất dinh dưỡng trong suốt các quá trình quang hợp của rong biển.

Các tác giả đã thực hiện một nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Nuôi trồng Hải sản Bền vững của Khoa Thủy sản và Nuôi trồng Thủy sản thuộc Đại học Nông thôn Liên bang tại Pernambuco ở Recife, Brazil để đánh giá cộng đồng thực vật phù du trong một hệ thống tích hợp biofloc cho nuôi tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương, Litopenaeus vannamei, và tảo đỏ, Gracilaria birdiae.

Xác nhận sự đa dạng các loài vi tảo, bao gồm Bacillaria (A), Chaetoceros (B), Nitzschia (C, Heterokontophyta), Aphanothece (D), Oscillatoria (E, Cyanobacteria) và Gymnodinium (F, Dinophyta).

Thiết lập

Mỗi tuần một lần trong 7 tuần, thực vật phù du đã được lấy mẫu ở 3 bể nuôi tôm độc canh và 9 bể với hệ thống tích hợp biofloc nuôi tôm thẻ L. vannamei và tảo Gracilaria có trọng lượng ướt lần lượt là 2,5, 5,0 và 7,5 kg/m3.

Năm ngày trước khi thả tôm và rong biển, nước từ 1 bể ma trận (tổng nitơ amoniac ở mức 0,2 mg/L, nitơ nitrit ở mức 0,3 mg/L, nitơ nitrat 2,2 mg/L, độ kiềm 133,9 mg calcium carbonate/L và tổng chất rắn lơ lửng 133,6 mg/L) được pha trộn và chia đều vào 12 bể nhựa màu đen 40-L cho tới khoảng 25% thể tích bể, 75% thể tích bể còn lại cho thêm nước biển.

Không thay nước trong suốt thời gian thử nghiệm, ngoại trừ việc bổ sung nước ngọt đã được tẩy trùng bằng chlorin để bù nước thất thoát do bay hơi. Cường độ ánh sáng được duy trì ở mức khoảng 1.000 lux sử dụng đèn huỳnh quang với một thời gian có ánh sáng tự nhiên.

Mật đường (40% cacbon hữu cơ) được sử dụng làm nguồn cacbon cho thêm một lần một ngày để duy trì tỷ lệ cacbon:nitơ là 12:1. Vôi tôi được sử dụng để duy trì độ kiềm và pH tương ứng trên 100 mg/L và 7,5.

Thả giống, lấy mẫu

Các đơn vị/bể thử nghiệm được thả tôm có trọng lượng ban đầu 0,34 ± 0,01 g ở mật độ 500 con/m3. Tôm được cho ăn hàng ngày thức ăn nuôi tôm thương phẩm có độ đạm 40% vào lúc 8 giờ sáng, giữa trưa và 4 giờ chiều, điều chỉnh lượng cho ăn hàng ngày tùy theo mức ước tính tôm tiêu thụ, tỷ lệ chết và thức ăn thừa.

Các mẫu sinh khối G. birdiae được thu tại bãi biển Pau Amarelo ở Pernambuco, Brazil, và được bảo quản trong các túi nhựa để phân tích trong phòng thí nghiệm. Nước được rút cạn từ tất cả các mẫu, và cân lại sau khi vật liệu đã được kiểm tra cẩn thận để loại bỏ các sinh vật bám bên ngoài. Rong biển có cấu trúc sinh sản, có dấu hiệu của sự mất sắc tố và hoại tử đã được bỏ đi.

Rong biển được nuôi trồng trong các mô-đun hình chữ nhật (20,0 x 6,5 x 2,2 cm) bằng nhựa polyvinyl chloride đặt thành hàng ngang trong các bể. Các mô-đun hình chữ nhật cũng được sử dụng trong các bể đối chứng không có rong biển.

Quá trình hô hấp và quang hợp của cột nước được ghi nhận vào cuối tuần trong suốt thử nghiệm. Đo cường độ gộp và thực quang hợp và hô hấp của cột nước bằng phương pháp chai sáng và tối cổ điển. Nồng độ oxy ban đầu và cuối cùng được đo bằng máy đo oxy.

Mỗi tuần một lần, thực hiện lấy mẫu dọc bằng cách sử dụng các chai nhựa 600-mL để thu thực vật phù du. Nước lọc qua một lưới hình nón-trụ mắt lỗ 15 μ để chắt được 15 mL, cho mẫu cô đặc hơn 40 lần. Thực vật phù du được cố định bằng formalin, đệm với borax (hàn the) và được bảo quản trong hộp nhựa 10 mL.

Kết quả

Tỷ lệ tôm sống đều trên 89% trong suốt thời gian thử nghiệm là 42 ngày. Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) 1,29 và trọng lượng tôm cuối cùng là 4.0 g trong hệ thống tích hợp biofloc cao hơn đáng kể (P

Cường độ quang hợp trung bình gộp (0,362- 0,437 mg oxy L/giờ), quang hợp thực (-0,223-0,281 mg oxy L/giờ) và hô hấp (0,416-0,544 mg oxy L/giờ) trong hệ thống nuôi độc canh và tích hợp biofloc được thể hiện ở hình 1. Các giá trị của quang hợp và hô hấp gộp dương, và quang hợp thực âm được quan sát thấy tương tự như các kết quả trong các hệ thống biofloc có ưu thế liên quan đến các vi sinh vật dị dưỡng.

Hình 1. Các mức quang hợp và hô hấp trong cột nước của các hệ thống nuôi độc canh và tích hợp biofloc trong suốt một thử nghiệm 42 ngày.

Khoảng 61 giống thực vật phù du thuộc ngành Heterokontophyta đã được xác định. Mật độ của chúng khoảng 30.000 tế bào/mL trong cả hai nghiệm thức.

Vi khuẩn lam là những sinh vật phong phú nhất, tiếp theo là Chlorophyta, Heterokontophyta, Euglenophyta và Dinophyta(Hình 2). Tuy nhiên, ưu thế của vi khuẩn lam trong hệ thống tích hợp biofloc ít hơn hệ thống độc canh. Điều này có thể là do sự gia tăng chất hữu cơ và phosphát trong nước, và những lợi thế cạnh tranh của các vi khuẩn lam hơn các nhóm sinh vật phù du khác. Vì vậy, việc kiểm soát vi khuẩn lam đã được đánh giá trong một hệ thống biofloc có thêm tảo cát.

Hình 2. Sự phong phú tương đối của thực vật phù du trong các hệ thống nuôi độc canh và tích hợp biofloc trong suốt thử nghiệm 42 ngày.

Khoảng 13 giống động vật phù du thuộc ngành Rotifer (luân trùng) và Copepod (giáp xác chân chèo, các nhóm Protozoa (động vật nguyên sinh) và Cladocera (giáp xác râu ngành) đã được xác định. Mật độ của chúng khoảng 1.700/L trong cả hai nghiệm thức.

Luân trùng là động vật phù du phong phú nhất trong các bể biofloc, tiếp theo là giáp xác chân chèo, động vật nguyên sinh và giáp xác râu ngành (Hình 3). Việc bổ sung cacbon hữu cơ trong các bể nuôi tôm đã tạo thuận lợi cho sự tăng trưởng của cộng đồng động vật phù du, có thể là do sự gia tăng sẵn có chất hữu cơ.

Hình 3. Sự phong phú tương đối của động vật phù du trong các hệ thống nuôi độc canh và hợp biofloc tích trong suốt thử nghiệm 42 ngày.

Mật độ luân trùng là 700-790/L, cao hơn so với ở các nhóm động vật phù du khác, có thể liên quan đến sự thích nghi của các sinh vật này đối với các mức dinh dưỡng và chất rắn cao hơn. Các kết quả tương tự đã được báo cáo đối với các hệ thống biofloc hoặc không thay nước/thay nước tối thiểu.

Các triển vọng

Trong hệ thống tích hợp biofloc, có vẻ như các cộng đồng sinh vật phù du đã chuyển đổi, giảm lượng vi khuẩn lam, và tăng Heterokontophyta (tảo dị roi) và Chlorophyta (tảo lục). Mặt khác, động vật nguyên sinh ít hơn, luân trùng và râu ngành tăng lên. Sự thay đổi này có thể đã cải thiện các mức đạm và axit béo không bão hòa đa trong biofloc góp phần làm tốc độ tăng trưởng của tôm tốt hơn trong hệ thống tích hợp.

Những kết quả này gợi ý nên thực hiện nghiên cứu thêm để đánh giá các thuộc tính sinh hóa và khả năng tiêu hóa của biofloc. tag: phần mềm pha dung dịch thuỷ canh

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cong-dong-sinh-vat-phu-du-trong-he-thong-nuoi-tom-doc-canh-he-thong-tich-hop-biofloc-36598.html

Công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá Song Chuột

Hiện nay, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I là cơ sở duy nhất tại Việt Nam có thể sản xuất và cung ứng con giống cá Song Chuột. Đồng thời, công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá Song Chuột đã được áp dụng cho các cơ sở sản xuất giống và nuôi cá biển trên phạm vi toàn quốc. tag: pha dung dịch thuỷ canh

Công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá Song Chuột

Theo các chuyên gia trong lĩnh vực thủy sản, áp dụng quy trình nuôi cá Song Chuột thương phẩm sẽ giảm giá thành nuôi và đạt hiệu quả kinh tế.
Theo các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của quy trình công nghệ này, tỷ lệ thành thục của cá cái đạt 91,8% và cá đực là 94,6%; tỷ lệ sống của cá giai đoạn từ cá bột lên cá hương từ 3,5 đến 6,2%; tỷ lệ sống của cá giai đoạn từ cá hương lên cá giống hơn 70%; cá giống 90 ngày tuổi có tổng chiều dài từ 7,5 đến 9 cm.
Cá Song Chuột sau thời gian nuôi 15 tháng, từ cỡ cá giống đến kích cỡ cá thương phẩm, đạt hơn 0,5 kg; tỷ lệ sống hơn 66%.

Áp dụng quy trình nuôi thương phẩm của Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, cá Song Chuột ở thị trường Việt Nam có giá 700 đến 900 nghìn đồng/kg, rẻ hơn nhiều so với thị trường Trung Quốc, nơi cá Song Chuột được bán với giá hơn 100 USD/kg. tag: phần mềm pha dung dịch thuỷ canh

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cong-nghe-san-xuat-giong-va-nuoi-thuong-pham-ca-song-chuot-36599.html

Bệnh đốm trắng ở tôm nuôi và công nghệ nuôi tôm nhằm phòng, chống bệnh đốm trắng

Riêng năm 2014, theo số liệu của Cục Thú y, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, bệnh đốm trắng đã xảy ra tại 250 xã, 68 huyện thuộc 22 tỉnh, thành phố trong cả nước, trải dọc theo chiều dài đất nước từ Quảng Ninh đến Cà Mau. tag: pha dung dịch thuỷ canh

Bệnh đốm trắng ở tôm nuôi và công nghệ nuôi tôm nhằm phòng, chống bệnh đốm trắng

So với năm trước, tuy số các địa phương để xảy ra bệnh đốm trắng giảm nhưng diện tích nuôi tôm bị bệnh lại tăng gần gấp đôi, lên tới hơn 22.600 ha, chiếm 3,33% tổng diện tích nuôi tôm của cả nước – trong đó có hơn 13.300 ha nuôi thâm canh và bán thâm canh, cùng với hơn 9.200 ha nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến.

Qua theo dõi, nhận thấy bệnh đốm trắng xảy ra trong năm qua ở cả 2 loài tôm nuôi chính là tôm chân trắng và tôm sú, với độ tuổi từ 10 đến 110 ngày sau khi thả giống. Diện tích nuôi tôm sú bị bệnh này nhiều hơn, chiếm khoảng 60% số diện tích nuôi tôm bị bệnh đốm trắng.

Trong năm 2014, đã có 3 tỉnh công bố dịch là Sóc Trăng, Nghệ An và Quảng Ninh. Sóc Trăng cũng là địa phương bị thiệt hại nhiều nhất với 11.000 ha nuôi tôm bị bệnh, chiếm gần nửa số diện tích nuôi bị bệnh đốm trắng trong cả nước.

Các nhà nghiên cứu bệnh học thủy sản cho biết, bệnh đốm trắng thường xuất hiện ở tôm nuôi vào mùa xuân và đầu mùa hè khi khí hậu, thời tiết thay đổi nhiều như sự biến thiên quá lớn của biên độ nhiệt giữa ngày và đêm dẫn đến tôm bị sốc và dễ nhiễm bệnh.

Bệnh đốm trắng được chia làm 2 dạng: dạng 1 là bệnh cấp tính thường làm cho tôm nuôi – nhất là các loài tôm thuộc giống tôm he (Penaeus) – bị chết hàng loạt với tỷ lệ cao trong vòng vài tuần; dạng 2 là bệnh tiềm ẩn, tồn tại độc lập trong các loài thuộc giống tôm càng xanh (Macrobrachium), các loài cua và tôm hùm sống trong tự nhiên và thường không có dấu hiệu bệnh lý.

Vi-rút gây bệnh đốm trắng phân bố rộng ở những vật chủ khác nhau, không chỉ ở một số loài thuộc giống tôm he mà còn ở nhiều loài khác trong bộ Mười chân (Decapoda) như cua, ghẹ, tôm hùm…

Điều này rất nguy hiểm do có nguy cơ làm tăng khả năng lây lan rộng rãi bệnh trong môi trường. Bệnh lan truyền chủ yếu theo chiều ngang qua nước, thức ăn và  rất dễ bùng phát khi môi trường biến đổi theo chiều hướng xấu làm cho tôm nuôi bị sốc.

Trong 3 năm gần đây, nhóm cán bộ khoa học của Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã triển khai thực hiện đề tài “Bước đầu nghiên cứu, sản xuất tolerine có khả năng hạn chế lây lan của virus gây bệnh đốm trắng trên tôm sú nuôi thương phẩm ở đồng bằng sông Cửu Long”.

Kết quả đã tạo ra được dòng nấm men có mang gen VP28 của virus gây bệnh đốm trắng có khả năng sản sinh protein VP28 dùng làm tolerine phòng bệnh đốm trắng cho tôm sú. Tolerine được xác định có tính an toàn 100% và bước đầu cho thấy có khả năng bảo vệ tôm sú nuôi trước bệnh đốm trắng, tuy không được toàn phần.

Hiện nay, đề tài đang tiến hành xác định thời gian và số lần cho ăn tolerine thích hợp để tolerine có hiệu quả bảo vệ cao nhất đối với tôm, đồng thời cũng xác định hiệu quả của tolerine trong việc hạn chế sự lây lan của virus gây bệnh đốm trắng ở tôm nuôi.

Trước tình hình diện tích nuôi tôm sú bị bệnh đốm trắng tăng nhiều, trong vụ nuôi tôm năm nay, người nuôi tôm cần áp dụng các công nghệ nuôi thân thiện với môi trường để phòng, chống bệnh hiệu quả, đạt năng suất, sản lượng cao và đảm bảo chất lượng sản phẩm tôm nuôi.

Trong quá trình nuôi tôm, cần đặc biệt chú ý đến việc duy trì ổn định môi trường nuôi bằng các biện pháp cơ học như quạt nước, sục khí đáy và xi phông đáy ao; các biện pháp hóa dược như bón vôi để duy trì pH, tăng độ kiềm; các biện pháp sinh học như dùng chế phẩm sinh học để cải tạo môi trường ao nuôi…

Bên cạnh đó, rất chú trọng khâu nâng cao sức đề kháng cho tôm nuôi thông qua việc sử dụng các biện pháp quản lý chăm sóc tốt, dùng thức ăn chất lượng cao để nuôi tôm, cho tôm ăn bổ sung các loại enzym, vitamin, chất khoáng vi lượng nhằm giúp tôm tăng cường khả năng tiêu hóa và sức đề kháng với bệnh.

Việc áp dụng các quy trình nuôi tôm tiên tiến – trong đó có quy trình nuôi tôm dùng chế phẩm sinh học và quy trình nuôi tôm theo công nghệ biofloc có tác dụng rất lớn nhằm phòng, chống bệnh đốm trắng cho tôm nuôi.

Quy trình nuôi tôm dùng chế phẩm sinh học do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành, theo đó, trong quá trình nuôi có dùng các loại chế phẩm vi sinh (có tên trong Danh mục được Bộ cho phép sử dụng) để làm sạch môi trường nước ao nuôi, đồng thời bổ sung các loại men tiêu hóa vào thức ăn và cho tôm ăn hàng ngày với lượng phù hợp. Định kỳ hàng tháng trong suốt vụ nuôi, cho tôm ăn thêm các loại vitamin A, C, D, E và bổ sung các chất khoáng vi lượng vào ao nuôi.

Quy trình nuôi tôm theo công nghệ biofloc là quy trình ứng dụng công nghệ biofloc để nuôi tôm thâm canh. Công nghệ biofloc dựa trên nguyên lý bổ sung một tỷ lệ phù hợp nguồn cacbon làm thức ăn cho vi sinh vật dị dưỡng với nguồn nitơ có sẵn trong nước ao nuôi, tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển ưu thế trong ao nuôi.

Công nghệ biofloc giải quyết được 2 vấn đề trong quá trình nuôi, đó là loại bỏ các chất dinh dưỡng chuyển hóa vào sinh khối vi sinh vật dị dưỡng xử lý nước ao nuôi, và sử dụng tập hợp các biofloc làm nguồn thức ăn tự nhiên giàu dinh dưỡng bổ sung tại chỗ cho tôm nuôi.

Khi nuôi tôm theo công nghệ biofloc, người nuôi không cần thiết phải xây dựng hệ thống lọc sinh học phụ trợ vì các quá trình vi sinh giúp khử độc tính của các hợp chất chứa nitơ đều diễn ra ngay trong môi trường nước của hệ thống nuôi, đồng thời cũng không cần dùng các biện pháp khác để khử trùng nước, ví dụ khử trùng bằng khí ôzôn, vì chúng sẽ cản trở hoạt động của vi sinh vật trong nước.

Do đó, công nghệ biofloc giúp làm giảm chi phí thức ăn, nâng cao an toàn sinh học, hạn chế tối đa sự nhiễm bệnh, nhất là các bệnh do virus gây ra cho tôm nuôi như bệnh đốm trắng. tag: phần mềm pha dung dịch thuỷ canh

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/benh-dom-trang-o-tom-nuoi-va-cong-nghe-nuoi-tom-nham-phong-chong-benh-dom-trang-36600.html

Có thu nhập cao từ nuôi ốc hương trong đìa

Trúng lớn khi nuôi đìa

Có thu nhập cao từ nuôi ốc hương trong đìa

Nhiều người nuôi ốc hương ở Vũng Chào (xã Xuân Phương) hai năm liền được mùa, được giá. Nuôi ốc hương thời gian ngắn, chi phí đầu tư thấp nhưng hiệu quả kinh tế rất cao so với nghề nuôi tôm hùm lồng. tag: pha dung dịch thuỷ canh

Anh Nguyễn Văn Tân, quê ở miền Bắc vào xã Xuân Phương thuê đìa rộng 4.000m2, trong đó 3.000m2 nuôi ốc, 1.000 m2dùng chứa nước. Sau 5 tháng nuôi, anh Tân thu hoạch 6 tấn ốc hương.

Với giá 230.000 đồng/kg, sau khi trừ các khoản chi phí, anh thu lãi trên 600 triệu đồng. Anh Tân cho biết, thức ăn cho ốc hương rẻ hơn thức ăn nuôi tôm hùm. Cũng là cá giã cào, cua, ghẹ… nhưng thức ăn nuôi tôm hùm có giá 20.000 đồng/kg còn ốc hương là 16.000 đồng/kg.

Tuy nhiên, người nuôi phải chú ý đến kỹ thuật cho ăn từng giai đoạn. Khi ốc còn nhỏ thì cho ốc ăn tôm dăm (tôm nhỏ), sau đó cho ăn cá, khoảng tháng thứ 3 cho ốc ăn lại tôm dâm để tạo can xi vỏ cứng. Nghề nuôi ốc hương “sướng” hơn nhiều so với nghề nuôi tôm hùm lồng, vì nuôi ốc khoảng 5 đến 6 tháng là thu hoạch, trong khi nuôi tôm hùm lồng phải đến 2 năm mới thu hoạch.

Anh Nguyễn Văn Tùng, một người nuôi ốc hương ở Vũng Chào, phấn khởi nói: Từ hai năm nay, nghề nuôi ốc hương trong đìa ở đây “trúng” lớn, người nuôi ít nhất cũng thu lãi 200 triệu đồng. Tuy nhiên, anh Tùng cũng khuyến cáo, nuôi ốc hương phải chú trọng kỹ thuật nuôi, vì rủi ro lớn hơn tôm hùm.

Khi nhiễm bệnh, ốc hương chết sạch đìa, mình ốc thối rữa; trong khi đó tôm hùm chết lai rai, còn vớt vát bán được.

Vì vậy, để ốc hương không bị nhiễm bệnh, đìa phải được tạo ôxy thường xuyên, lắp hai nguồn quạt nổi tạo ôxy trên bề mặt và hai nguồn lủi âm dưới đìa để sục khí. Đặc biệt, người nuôi phải thường xuyên cào vớt thức ăn thừa dưới đầm để nguồn nước không ô nhiễm.

Trước đây, nuôi ốc hương ở vùng này phải qua 3 “khâu”: Đẻ, ương, nuôi thành ốc thịt. Giai đoạn ốc đẻ khoảng 2,5 tháng, giai đoạn ương từ 10 đến 15 ngày, sau đó ốc hương con mới được nuôi thành ốc thương phẩm.

Thế nhưng gần đây, nhiều người chuyên nuôi cho ốc đẻ rồi ương còn người nuôi ốc hương thành phẩm chỉ việc mua con giống về nuôi. Giá con giống hiện nay thấp, 10 vạn con có giá 70 triệu đồng, còn trước đây là 90 triệu đồng.

Ông Phan Thanh Sơn, một người nuôi ốc hương ở xã Xuân Cảnh, cho hay: Để đạt hiệu quả, người nuôi đừng ham nuôi dày, thả khoảng 10 vạn con ốc trong 1,5 sào. Ốc hương lớn đều đặn đến tháng thứ 5 thì đạt 150 con/kg, thu gần 1 tấn ốc thành phẩm.

Nuôi chắn đăng bị ô nhiễm

Theo thống kê của Phòng Kinh tế TX Sông Cầu, diện tích nuôi trồng cá mú, cá chẽm, ốc hương, cua trong đìa khoảng 300ha, trong đó khoảng 13ha diện tích nuôi ốc hương… Tuy nhiên, thời gian qua, nghề nuôi trồng thủy sản ở đây mang tính tự phát, người nuôi chưa tuân theo lịch thời vụ cũng như quy hoạch vùng

nuôi nên vấn đề ô nhiễm môi trường nuôi thường xuyên xảy ra. Bởi theo nhận định của Trạm Thú y TX Sông Cầu, thức ăn con tôm hùm và ốc hương đều là thức ăn tươi sống, trong khi đó các vùng nuôi này liền kề nhau, điều này dẫn đến môi trường bị ô nhiễm, dịch bệnh xảy ra.

Còn theo nhiều người nuôi trồng thủy sản ở TX Sông Cầu, cũng là nuôi ốc hương nhưng nuôi chắn đăng (dùng đăng chắn ngoài biển) thì “tuột tay” vì ốc chết, còn nuôi đìa thắng lớn. Nguyên nhân nuôi chắn đăng ngoài biển nước ô nhiễm ngâm trực tiếp vào chắn đăng lâu ngày, ốc hương chịu không nổi, thò vòi ra chết sạch.

Cũng do nguồn nước ô nhiễm, những ngày qua, vùng nuôi ốc hương chắn đăng ở khu vực Gành Đỏ, phường Xuân Đài (TX Sông Cầu) bị chết nhiều.

Ông Bùi Văn Thắng, một người nuôi ốc hương ở thôn Hòa Lợi (xã Xuân Cảnh), thổ lộ: Nuôi ốc hương trong chắn đăng khó vệ sinh vùng nuôi.

Còn nuôi trong đìa, người nuôi thường xuyên cào thức ăn thừa dưới đáy hồ khi phát hiện ốc nằm đơ trên mặt đìa là biết ốc đã bị bệnh. Ốc hương thò vòi ra, chính là ốc bị nhiễm bệnh nặng, người nuôi lập tức dừng cho ăn và thuê kỹ sư thủy sản đến tìm hiểu, “bắt bệnh” rồi trị bệnh cho ốc.

Nghề nuôi ốc hương ở TX Sông Cầu đang phát triển theo hướng mới, đó là thuê kỹ thuật viên trong khâu nuôi bằng cách chia phần trăm. Nghĩa là thuê người am hiểu kỹ thuật chăm sóc đìa nuôi rồi trả lương hàng tháng, bên cạnh đó giao khoán được hưởng phần trăm. Nếu cuối vụ, người nuôi thu 500 triệu đồng thì công nhân kỹ thuật được hưởng 50 triệu đồng.

Gọi là người có vốn người có công cùng hưởng lợi để gắn kết trách nhiệm. Ông Phạm Xuân Hương, Trưởng trạm Thú y TX Sông Cầu, khuyến cáo: Nuôi ốc hương cần tuân thủ theo lịch thời vụ, địa điểm đã quy hoạch vùng nuôi để tránh sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm.

Chúng ta nên nuôi ốc mật độ thưa để ốc phát triển và sử dụng con giống có nguồn gốc rõ ràng, được ngành chức năng kiểm dịch. tag: phần mềm pha dung dịch thuỷ canh

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/co-thu-nhap-cao-tu-nuoi-oc-huong-trong-dia-36601.html

Nuôi tôm vụ đông hiệu quả hơn nuôi chính vụ

Nuôi tôm vụ đông đã phát triển từ năm 2005 tại đảo Hải Nam Trung Quốc, ở Việt Nam bắt đầu phát triển tại các tỉnh miền Bắc từ năm 2011. tag: pha dung dịch thuỷ canh

Nuôi tôm vụ đông hiệu quả hơn nuôi chính vụ

Theo các chuyên gia, nuôi tôm vụ đông có những lợi thế như sản phẩm dễ bán hơn, giá bán cao hơn chính vụ (từ 70.000 – 150.000 đồng/kg), môi trường nuôi ít bị ô nhiễm hơn, dịch bệnh ít xảy ra hơn, co thể nuôi được 3 vụ/năm…

Tuy nhiên nuôi tôm vụ đông cũng có nhiều khó khăn như nhiệt độ thấp nên người nuôi phải đầu tư cao hơn (làm nhà bạt) để ổn định nhiệt độ, thời gian nuôi dài hơn, quản lý môi trường khó khăn hơn.

Qua khảo sát của chúng tôi, khi nuôi tôm trong nhà bạt, nhiệt độ trong nhà thường cao hơn bên ngoài từ 5-15 độ, các hộ nuôi đều có hiệu quả rất cao vì giá tôm vụ đông thường cao gấp 1,5 – 2 lần giá chính vụ, lại rất dễ bán do khan hiếm.

Để bạn đọc có thêm căn cứ phát triển nuôi tôm vụ đông, tôi xin thông tin thêm một vài mô hình nuôi tôm hiệu quả cao tại các tỉnh miền Bắc trong năm 2014 và giới thiệu các biện pháp kỹ thuật được áp dụng tại các mô hình đó.

1. Hình thức nuôi được áp dụng phổ biến

Có hai hình thức nuôi được đánh giá là đạt hiệu quả gồm nuôi đa cấp và nuôi 1 cấp

– Nuôi đa cấp: Giai đoạn 1 được ương trong bể ương trong nhà với thời gian 20 – 30 ngày với mật độ 500 – 1.000 con/m2, sau khi tôm đạt cỡ 3-4 cm/con, được san ra ao thương phẩm, sau 2 tháng nuôi tôm đạt cỡ 50-60 con/kg tiến hành thu hoạch. Mô hình nuôi đa cấp điển hình là  Hợp tác xã Xuân Thành – Xuân Phổ – Nghi Xuân – Hà Tĩnh

– Nuôi 1 cấp (mua giống thả trực tiếp xuống ao): Tôm nuôi trong nhà bạt cỡ giống P12 trở lên, thời gian nuôi từ 3-4 tháng tiến hành thu hoạch. Hộ ông Nguyễn Văn Dũng ở thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh và hộ ông Đỗ Quang Bốn ở Thái Thụy, Thái Bình là những thành công với cách nuôi này.

Nuôi tôm trong nhà bạt phủ nilon

Ưu điểm nuôi tôm trong nhà bạt tránh được thời tiết bất lợi như mưa và gió làm giảm pH, nhiệt độ, độ mặn và gây phân tầng nước trong ao nuôi tôm.

2. Kỹ thuật được áp dụng trong nuôi tôm vụ đông

2.1 Chuẩn bị ao và nhà bạt

Ao có diện tích từ 1.000-3.000 m2, thiết kế hình vuông, được lót bạt hoặc bê tông hóa, có lắp đặt hệ thống xi-phông đáy. Do nuôi trong nhà bạt kín gió phải tăng cường hơn hệ thống sục khí đáy và quạt nước để đảm bảo hàm lượng oxy đầy đủ.

Xây dựng nhà bạt có hai loại:

– Kiểu chóp nón: Nhà bạt được xây dựng trên ao theo hình chóp nón, giữa ao có một trụ chính, xung quanh ao cắm trụ bê tông hoặc trụ thép cao khảng 20 cm so với mặt đất cách nhau khoảng 30 cm. Dây cáp đường kính Φ 3mm, được căng xung quanh ao đảm bảo độ dốc 5%, trên được phủ màng kính (nilon). Theo ông Đỗ Quang Bốn ở Thái Thụy, Thái Bình, việc xây dựng theo hình chóp nón có ưu điểm tránh được gió bão tốt hơn khi xây dựng theo hình ngôi nhà.

Thiết kế nhà bạt của ông Đỗ Quang Bốn ở Thái Thụy – Thái Bình

– Kiểu mái nhà: Nhà bạt được xây dựng gồm 2 mái, có diện tích 1,2 ha, xà nhà được làm bằng ống kẽm có đường kính Φ 60, cột đường kính Φ 70, cao mái từ 3,5-4m, dây cáp bọc nhựa trên mái được móc vào các cột thép cố định xung quanh. Trên mái được phủ bạt nilon và được bảo vệ bạt nilon bằng lưới. Theo ông Nguyễn Văn Dũng ở thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, xây dựng nhà như trên có ưu điểm giá thành thấp hơn nhà chóp nón và dễ thao tác hơn.

Nhà bạt nuôi tôm vụ đông tại Quảng Ninh

2.2. Đối tượng nuôi và mùa vụ nuôi

– Đối tượng nuôi tôm vụ đông: Tôm thẻ chân trắng vì thời gian nuôi ngắn

– Vụ nuôi: các hộ nuôi tôm vụ đông thường tính toán vụ nuôi để thu hoạch trước Tết nhằm bán được giá cao. Thời gian thả giống từ tháng 8-10 âm lịch, tức vào khoảng tháng 9-11 dương lịch.

2.3. Mật độ thả và thức ăn

Mật độ thả giống nuôi tôm vụ đông được các hộ thả nuôi cao hơn với chính vụ. Cụ thể như sau:

– Nuôi đa cấp: Thả mật độ trung bình 80 con/m2

– Nuôi 1 cấp: Thả 80-120 con/m2

– Giống tôm thẻ chân trắng: Được mua cơ sở được phép sản xuất theo quy định của Ngành Thủy sản, khỏe mạnh, cỡ tổi thiểu P12 trở lên, được cơ quan thú y cấp giấy kiểm dịch, được xét nghiệm âm tính với các bệnh trong danh mục các bệnh bắt buộc do cơ quan chuyên môn cấp, có nguồn gốc rõ ràng, khỏe mạnh.

– Thức ăn tôm chân trắng được mua có nguồn gốc rõ ràng, yêu cầu tỷ lệ đạm 32 – 38%, lipit 4-6%, độ ẩm

2.4. Quản lý môi trường ao nuôi

 sở nuôi của ông Bốn ở Thái Thụy, Thái Bình dùng chế phẩm sinh học để quản lý môi trường nước được sản xuất EM2 từ EM gốc. Cách làm như sau:

– Nguyên liệu: 1 lít mật đường hoặc 1 kg đường đỏ + 1 lít EM gốc + 45-50 lít nước ngọt sạch khuẩn + 2 kg cám gạo hoặc bột ngô + 10 g muối ăn;

– Cách tiến hành: cho vào thùng ủ kín 7 ngày

EM2 và EM gốc

– Cách sử dụng: Chế phẩm EM2 được sử dụng định kỳ 3-7 ngày/lần tùy theo điều kiện màu nước ao nuôi để bón, liều lượng 50 lít EM2/1.000 m3 nước.

Cơ sở  nuôi của ông Dũng ở thành phố Móng Cái, Quảng Ninh Quản lý môi trường bằng công nghệ Nano định kỳ 7 ngày/lần, giữa hai lần dùng Nano sử dụng chế phẩm vi sinh.

Nano và ao nuôi tôm của ông Dũng ở Quảng Ninh

Quản lý nước: Định kỳ 3-5 ngày tiến hành xi phông đáy sau cấp thêm nước vào ao nuôi.

2.5. Biện pháp phòng trị bệnh

– Để tránh hiện tượng tôm sốc môi trường nước, ao cấp nước bổ sung được xây dựng trong nhà bạt.

– Định kỳ dùng Iotdin phòng bệnh 20 ngày/lần vào những tháng đầu sau giảm 15 ngày/lần. Liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

– Dùng chế phầm sinh học bón định kỳ 5-7 ngày/lần để gây màu nước và phân hủy khí độc (chú ý, nếu dùng chế phẩm sinh học thì không dùng Iotdin).

3. Đánh giá tình hình nuôi tôm vụ đông

– Tình hình dịch bệnh: Theo đánh giá của các hộ nuôi, nuôi tôm vụ đông ít dịch bệnh hơn nuôi chính vụ.

– Tốc độ sinh trưởng : Do vụ đông nhiệt độ xuống thấp nên thời gian nuôi kéo dài hơn so với chính vụ từ 1,5 đến 2 lần.

– Hệ số thức ăn: Theo tính toán của một số hộ đã nuôi thì hệ số thức ăn không cao hơn so với chính vụ khoảng 1,15-1,2kg/kg tôm.

– Hiệu quả kinh tế mang lại

Hiệu quả kinh tế mang lại được đánh giá qua khảo sát 2 hộ nuôi ông Nguyễn Văn Dũng tại TP Móng Cái, Quảng Ninh và hộ ông Đỗ Quang Bốn, Thái Thụy, Thái Bình như sau:

Hiệu quả kinh tế trên 1 ha đối với nuôi chính vụ và nuôi vụ đông của 2 hộ

ĐVT: triệu đồng

TT Nội dung Nguyễn Văn Dũng Đỗ Quang Bốn
Nuôi tôm chính vụ Nuôi tôm vụ đông Nuôi tôm chính vụ Nuôi tôm vụ đông
I Đầu tư cơ bản
1 Khấu khao công trình và thiết bị 30 56 82 90
2 Khấu khao nhà bạt 160 180
II Chi phí sản xuất
1 Giống 80 120 80 120
2 Thức ăn 409 461,5 407 495
3 Công lao động 37,5 90 40 80
4 Điện, nhiên liệu 36 50 47 90
5 Thuốc, hóa chất, chế phẩm SH 70,5 81,5 76 70,5
6 Chi khác 10,5 20 17 17,5
III Tổng chi 673,5 1.039 749 1.143
Sản lượng (tấn) 9 10,1 8,9 10,9
Giá bán (1.000 /kg) 175 250 175 250
IV Tổng thu 1.575,00 2.525,00 1.557,50 2.725,00
V Lợi nhuận 901,50 1.486,00 808,50 1.582,00

Theo bảng trên, tôm vụ đông của hộ ông Nguyễn Văn Dũng ở TP Móng Cái, Quảng Ninh lợi nhuận đạt 1.486,0 triệu đồng/ha, gấp 1,6 lần so với nuôi chính vụ (901,5 triệu đồng/ha). Hộ ông Đỗ Quang Bốn ở Thái Thụy, Thái Bình lợi nhuận đạt 1.582,0 triệu/ha đồng gấp gần 2 lần nuôi chính vụ 808,5 triệu đồng/ha.

Đánh giá về tỷ suất lợi nhuận (lợi nhuận/tổng chi), tỷ suất lợi nhuận của ông Dũng, Quảng Ninh: nuôi chính vụ 1,3 và nuôi vụ đông 1,4. Tỷ xuất lợi nhuận của ông Bốn – Thái Bình: nuôi chính vụ 1,1 và nuôi vụ đông 1,4.

4. Kết luận và kiến nghị

Kết luận

– Nuôi tôm vụ đông thời gian nuôi dài hơn chính vụ khoảng 1,5 lần, nhưng lợi nhuận/ha gấp 1,5-2 lần so với nuôi chính vụ.

– Đầu tư ban đầu nuôi tôm vụ đông cao hơn nuôi chính vụ, thấp nhất khoảng 500 triệu đồng/ha

– Tình hình dịch bệnh ít xảy ra hơn với nuôi chính vụ, đặc biệt các bệnh đốm trắng, hoại tử gan tụy không xảy ra

– Giá bán tôm vụ đông so với nuôi chính vụ cao gần 1,5 lần và dễ bán.

 Kiến nghị

Tăng cường thông tin tuyên truyền, phổ biến kỹ thuật nuôi tôm vụ đông đối với các tỉnh ven biển phía Bắc.

Đề nghị có chính sách hỗ trợ hoặc cho vay vốn đối với những hộ có nhu cầu nuôi tôm vụ đông

Bộ nên quy định các cơ sở nuôi phải đáp ứng đủ điều kiện hạ tầng, cơ sở vật chất mới tiến hành thả nuôi để tránh tình hình dịch bệnh có thể xảy ra trên diện rộng.

Các đơn vị nghiên cứu cần xây dựng quy trình nuôi tôm vụ đông phù hợp các tỉnh miền Bắc. tag: phần mềm pha dung dịch thuỷ canh

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nuoi-tom-vu-dong-hieu-qua-hon-nuoi-chinh-vu-36611.html

Kiểm soát chất lượng nước và đáy ao nuôi tôm thông qua chỉ số pH và chỉ số Tiềm năng oxi hóa khử ORP

Bài viết này bàn về việc kiểm soát chất lượng nước – kiểm soát biến động pH (thông qua kiểm soát mật độ tảo và Kiềm) và quản lý đáy ao (thông qua kiểm soát tiềm năng oxi hóa khử ORP – Oxidation Reduction Potential). tag: pha dung dịch thuỷ canh

Kiểm soát chất lượng nước và đáy ao nuôi tôm thông qua chỉ số pH và chỉ số Tiềm năng oxi hóa khử ORP

Phần 1: Kiểm soát chất lượng nước (kiểm soát biến động pH nước)

Chất lượng môi trường ao nuôi không ổn định sẽ ảnh hưởng đế hoạt động trao đổi chất và tiến trình sinh lý khác của vật nuôi – làm gia tăng stress (sốc) đối với vật nuôi đưa đến dễ mẫn cảm với bệnh tật gây chết vật nuôi và làm chậm tăng trưởng, ảnh hưởng đến năng suất – sản lượng.

pH là một trong các yếu tố cơ bản ảnh hưởng chất lượng nước ao nuôi – pH hay Hydrogen tiềm năng phản ánh độ axít hoặc ba zơ của dung dịch nước – Khoảng đo pH có giá trị từ 0 đến 14 và tùy theo giá trị đo pH dung dịch nước được gọi là trung tính, axít hay bazơ.

Khoảng pH thích hợp cho nuôi trồng thủy sản là 6 đến 9 – tối ưu là 7,5 đến 8,5.

 

pH > 9,0

 

Ammonium sẽ chuyển hóa thành Ammonia độc và gia tăng các độc tố của tảo lam
pH

 

Phóng thích kim loai nặng từ nền đáy gây ảnh hưởng vật nuôi
7,5-8,5 Thích hợp cho nuôi thủy sản

 

pH thấp làm giảm quá trình trích trữ khoáng trong cơ thể tôm làm tôm mềm vỏ hoặc lột xác không hoàn toàn, ngăn cản quá trình tạo các mô của sinh vật.

pH phụ thuộc rất lớn quá trình quang hợp và hô hấp. Vì vậy, kiểm soát pH cần thông qua kiểm soát mật độ tảo trong ao và lượng CO2 tạo ra do quá trình hô hấp.

Nước có pH thấp thì tảo kém phát triển, ngoài ra các loài động vật phù du làm thức ăn tôm cá thường phát triển tốt trong nước có pH hơi kiềm.

Mật độ tảo càng cao thì biến động pH trong ngày càng lớn – Vì vậy cần kiểm soát mật độ tảo vừa phải. Kiểm soát được pH trong khoảng 7,8 đến 8,2 và biến động trong ngày của pH

Hình 1. Quan hệ giữa mật độ tảo và biến độ pH trong ngày (pH ít biến động khi mật độ tảo vừa phải)

Chú thích: Dense bloom: mật độ tảo cao; Sparse bloom : mật độ tảo vừa phải; Sunrise: sang sớm; Sunset: chiều tối.

Lượng CO2 tạo ra do quá trình hô hấp phụ thuộc sinh lượng của sinh vật trong ao. pH càng thấp thì càng tăng tính hòa tan của CO2 trong nước – làm a xít hóa nước.

Hình 2. Cân bằng giữa pH và CO2

Tổng độ kiềm của nước là năng lực của nước trong việc trung hòa các a xít  (bởi các ba zơ HCO3-, CO3- và OH-) hay còn gọi là năng lực hệ đệm của nước. Tổng độ kiềm thường được đo dưới dạng mg/l Cancium Carbonate (CaCo3).

Độ kiềm nước càng thấp thì biến động độ pH càng lớn – Trong nước nuôi tôm phải duy trì được độ kiềm cao (100-120) đễ ổn định được pH vì nếu đệ độ kiềm xuống thấp sẽ làm pH biến động lớn trong ngày làm gia tăng stress (sốc) cho tôm, làm giảm tăng trưởng và gây chết tôm.

 

Hình 3. Quan hệ giữa độ kiềm và biến động pH trong ngày

Chú thích: Low alkalinity water induces broad pH fluctuations inducing shrimp stress, reduced growth and even mortality: độ kiềm thấp làm tăng biến động pH trong ngày, gây sốc tôm, giảm tăng trưởng và gây chết tôm; High alkalinity levels with high pH affect shrimp molting as well (excess salt lose): độ kiềm cao và pH cao cũng ảnh hưởng lột xác của tôm (làm mất muôi trong cơ thể tôm); Early morning: sáng sớm; Mid afternoon: giữa chiều.

Giữ pH ổn định cao vừa phải (7,8 đến 8,2) và độ kiềm cao vừa phải (khoảng 100-120 mg/l) là tối ưu nhất cho nuôi tôm biển.

Quá trình quang hợp bẻ gãy O xít carbon (CO2) chuyển hóa năng lượng mặt trời và carbon vào vật chất hữu cơ dưới dạng đường – quá trình quang hợp xảy ra ở thực vật, tảo và một số vi khuẩn. Khí o xít carbon từ không khí có độ hòa tan vào nước cao hơn độ hòa tan của khí oxi. Khi hòa tan khí o xít carbon tạo a xít carbonic.

Hình 4. Khoảng pH kiểm soát quá trình đồng hóa khí CO2 của tảo,cần thiết cho quá trình quang hợp và sự tăng trưởng của tảo

Chú thích: ở pH thấp chủ yếu tồn tại a xít carbonic và khí CO2, ở pH vừa phải chủ yếu tồn tại HCO3- và ở pH quá cao chủ yếu tồn tại CO32-. Nghĩa là tùy thuộc pH, phản ứng hóa học sau đây sẽ nghiêng về sản phẩm nào:

Ngược lại quá trình quang hợp, quá trình hô hấp lại tạo ra khí O xít carbonic và giải phóng nhiệt:

Quá trình hô hấp sản sinh ra khí CO2 vì thế làm giảm pH làm cho ao nuôi ngày càng axít. Quá trình hô hấp của sinh vật tiêu thụ oxi hòa tan vì vậy nếu ao nuôi thiếu hụt oxi hòa tan sẽ gây nên hội chứng “Lão hóa ao nuôi” vì:

– Đất ao sẽ bị a xít hóa

– Điều kiện iếm khí đáy ao đựa đến quá trình lên men kị khí và khử sulfate hình thành sulfide (H2S) gây độc cho tôm.

pH còn ảnh hưởng đến hoạt tính chất xử lý nước Chlorine vì ở pH thấp đa số Chlorine khi hòa tan sẽ tồn tại ở dạng Hypochlorous (HOCl) trong khi pH cao khi hòa tan vào nước Chorine cho sản phẩm Hypoclorite. Hypochlorous (HOCl) mới là dạng hoạt tính có độc lực diệt khuẩn cao, nghĩa là Chlorine chỉ hiệu quả ở pH thấp.

Làm thế nào để ổn định pH của nước :

1. Cung cấp khoáng sinh học

2. Kiểm soát tỉ lệ N:P thông qua kiểm soát cân bằng dinh dưỡng và cân bằng tảo, kiểm soát tốt mật độ tảo và ngăn ngừa tảo bị chết, ngăn ngừa sự phát triển tảo lam

3. Kiểm soát vi sinh thông qua ứng dụng vi sinh có lợi (probiotics) để phân giải hợp chất hữu cơ trong ao, kiểm soát pH đất nền đáy, kiểm soát tăng trưởng tảo

4. Duy trì độ kiềm cao vừa phải (100-120 mg/l CaCO3)

Phần 2: Quản lý đáy ao và chất lượng nước thong qua kiểm soát ORP

Quản lý tốt đáy ao và chất lượng nước thông qua chỉ số Tiềm năng oxi hóa khử ORP (Oxidation – Reduction – Potential).

Tiềm năng oxi hóa khử phả ánh độ sạch của nước và khả năng phân giải các chất ô nhiễm trong ao, đặc biệt đáy ao.

ORP được đo bằng millivolts (mV) và dao động từ -2000 đến +2000 mV. Tiềm năng oxi hóa khử cũng phản ánh gián tiếp hàm lượng oxi hòa tan.

 

Mức độ ORP (mV) của nước Ứng dụng của nước
0-150 Không sử dụng được trongg thực tế
150-250 Sử dụng cho nuôi trồng thủy sản
250-350 Sử dụng cho các tháp làm lạnh
400-475 Nước dùng làm hồ bơi
450-600 Nước làm nóng
600 Nước khử trùng
800 Nước hoàn toàn vô trùng

 

ORP có giá trị âm phản ánh ao nuôi ở điều kiện bị iếm khí (thích hợp cho quá trình lên men kị khí), ORP giá trị dương phản ánh ao nuôi có điều kiện hiếu khí. ORP có giá trị âm và điều kiện iếm khí sẽ kích thích sự phát triển của tảo lam, gây độc cho ao tôm. Ngoài ra, khi iếm khí sẽ kích thích các vi khuẩn Vibrio khử sulfate (DesulfoVibrio) phát triển để oxi hóa vật chất hữu cơ và sản sinh khí H2S.

Hình 5. Quá trình khử sulfate của vi khuẩn tạo sulfide

Khí H2S không màu và rất độc dù hàm lượng thấp. Tùy thuộc pH của nước và đáy ao, phản ứng khử sulfate của vi khuẩn sẽ tạo thành HS- hay H2S, hay S2-. Ở pH thấp sẽ gia tăng dạng độc trong khi ở pH cao sẽ gia tăng hàm lượng sulfide tự do (HS-) là dạng không độc. Vì vậy, cần phải duy trì pH cao ổn định trong ao nuôi tôm.

Ao nuôi ở điều kiện oxi hóa sẽ có ORP mang giá trị dương và nước nuôi trồng thủy sản cần có giá trị ORP trong khoảng +150 đến +250mV.

Ở khoảng ORP từ +100 đến + 350mV là khoảng thích hợp cho hoạt động của các Vi khuẩn nitrate hóa (Nitrosomonas sp. và Nitrobacter sp.) và các vi khuẩn dị dưỡng có lợi, thúc đẩy quá trình phân giải hiếu khí các hợp chất hữu cơ tốt hơn – làm cho chất lượng nước ao nuôi tốt hơn và đáy ao sạch hơn.

Kiểm soát ORP bằng việc gia tăng oxy hòa tan với các sản phẩm tạo oxi hòa tan trong nước (oxygenator), sản phẩm oxi hóa khử chất hữu cơ (khoáng, chlorine hoạt tính ở nồng độ thấp,…), cung cấp ao nuôi sản phẩm phân bón chứa nitrate và silic kích thích tảo khuê phát triển (NO3 và silicate – SiO2),  và kiểm soát sinh học đáy ao (Bio-regulator).

Sự có mặt của phân bón chứa Nitrate (NO3) trong ao nuôi sẽ ngăn ngừa việc giảm tiềm năng khử và tăng tiềm năng oxi hóa cũng như ngăn ngừa sự thành lập sulfides (Avnimelech, 2012). tag: phần mềm pha dung dịch thuỷ canh

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/kiem-soat-chat-luong-nuoc-va-day-ao-nuoi-tom-thong-qua-chi-so-ph-va-chi-so-tiem-nang-oxi-hoa-khu-orp-36614.html