Monthly Archives: August 2018

Đục cơ trên tôm và những cách phòng ngừa

Dấu hiệu chung của bệnh hoại tử cơ IMNV

(a) Tôm thẻ chân trắng nuôi từ một ổ dịch tự nhiên, biểu hiện mức độ hoại tử cơ xương khác nhau, có thể nhìn thấy vùng bụng biến sang màu trắng đục. tag: pha dung dịch thuỷ canh

(b) Tôm thẻ chân trắng sạch bệnh SPF thực nghiệm tiêm vi thể virút (virion) IMN thuần khiết.

Tôm ở phía trên thể hiện rõ dấu hiệu hoại tử cơ dọc theo bụng, đặc biệt rõ là đốt bụng thứ sáu (mũi tên). Tôm ở phía dưới là con tôm bình thường, từ bể đối chứng âm tính, chỉ tiêm muối vô trùng 2%.

Đục cơ do bệnh

Ở vùng nuôi tôm có độ mặn tương đối cao (25 – 35‰), khi nước ao bị ô nhiễm, ở một số con tôm trên cơ thể chuyển sang trắng đục.

Nguyên nhân gây bệnh là do vi bào tử trùng (Microsporidian).

Ngoài ra, tôm nhiễm virus IMNV (Infectiuos Myonecrosis Virus) cơ thể cũng chuyển sang trắng đục.

Các điểm hoại tử nhỏ bắt đầu ở phần đuôi rồi lan dần ra toàn thân.

Tỷ lệ chết khá cao trong thời gian dài (40 – 70%).

Cho đến nay vẫn chưa có biện pháp chữa trị mà chủ yếu vẫn áp dụng phòng bệnh tổng hợp như không dùng tôm bố mẹ nhiễm bệnh trong các trại giống, loại bỏ những tôm bệnh ra khỏi ao nuôi và làm tốt công tác cải tạo và quản lý tốt môi trường ao.

Đục cơ do nhiệt độ

Hiện tượng này xảy ra khi nhấc nhá (sàng, vó) lên khỏi mặt nước để kiểm tra sức ăn của tôm (vào ban ngày).

Tôm trong nhá, vó sẽ nhảy lên búng mạnh, gặp nhiệt độ cao, một số con bị cong thân. Đuôi uốn cong chạm đến phần giáp ngực, phần cơ chạy dọc cơ thể sẽ trở nên trắng đục.

Khi thả trở lại ao, số lượng tôm cong thân sẽ chết vì không tự duỗi thẳng lại được.

Tương tự, khi sử dụng chài tôm kiểm tra lúc nắng nóng, lượng tôm đục cơ và cong thân cũng xảy ra nhiều. Biện pháp để hạn chế hiện tượng này là không sử dụng nhá, vó để kiểm tra tôm trong ao khi thời tiết nắng nóng.

Hiện tượng tôm cong thân cũng thường xảy ra khi người nuôi tắt tất cả quạt khí rồi sau đó bật quạt chạy trở lại làm tôm bị “giật mình”, nhiều con sẽ nhảy lên mặt nước tạo thành “làn sóng” chạy dọc theo ao.

Một số tôm khi nhảy lên mặt nước sẽ bị cong thân khi tiếp xúc không khí và chuyển sang trắng cơ. Hiện tượng này thường xảy ra vào nửa đêm khi tôm đạt kích cỡ 10 g/con trở lên.

Do vậy người nuôi không chú ý đến hiện tượng này và đến ngày hôm sau mới phát hiện có tôm chết trong ao.

Hiện tượng này thường xảy ra khi thời tiết có nhiệt độ cao và trong ao có tảo giáp phát triển. Mật độ tảo giáp cao làm nước có màu nâu đỏ và tôm yếu đi. Biện pháp hạn chế, người nuôi không nên tắt hết tất cả quạt khí vì bất cứ lý do gì mà nên duy trì hoạt động ít nhất một dàn quạt, kể cả khi cho tôm ăn.

Đục cơ do chuyển ao

Khi kéo lưới để bắt tôm cho mục đích thu tỉa hay chuyển sang ao mới, một số tôm sẽ bị sốc, một phần hay toàn bộ cơ thịt của nó sẽ bị trắng đục, hoặc thỉnh thoảng có sự pha lẫn giữa màu trắng và màu tối khác thường, như màu cam hoặc đỏ hồng.

Hầu hết tôm có màu khác thường này sẽ chết sau thời gian ngắn.

Những con khác bị nhẹ nếu có hồi phục thì cũng mất vài ngày màu sắc cơ thể mới trở lại bình thường. Biện pháp tốt nhất cần kiểm tra sức khỏe của tôm trước khi chuyển sang ao mới.

Nếu bắt đầu chuyển tôm mà phát hiện thấy một vài con chuyển sang trắng đục thì nên tạm dừng. Nước dùng vận chuyển tôm phải ở nhiệt độ 24 – 250C và hàm lượng ôxy cao (5 mg/l trở lên).

Đục cơ do ôxy thấp

Lượng ôxy trong nước ao nuôi sẽ thấp nếu không lắp đủ các dàn quạt khí tương ứng trọng lượng tôm trong ao.

Theo kinh nghiệm, mỗi mã lực (HP) máy quạt nước sẽ cung cấp đủ ôxy cho 400 – 500 kg TTCT. Người nuôi nên tính số lượng dàn quạt nước vừa đủ cung cấp ôxy cho lượng tôm có trong ao.

Ngoài ra, vị trí đặt dàn quạt nước cũng rất quan trọng, lắp đặt các dàn quạt nước đúng vị trí sẽ tạo được dòng chảy quy tụ chất thải vào giữa ao, làm đáy ao luôn sạch, đồng thời hàm lượng ôxy được khuyếch tán vào mọi vị trí trong ao, nhất là giữa ao, nơi diễn ra sự phân huỷ các chất hữu cơ được tích tụ từ xác tảo tàn và thức ăn dư thừa.

Quá trình phân hủy các chất hữu cơ tăng lên trong suốt vụ nuôi và đây là nguyên nhân làm lượng ôxy hòa tan trong nước giảm xuống thấp.

Chất thải hữu cơ tích tụ trong ao sẽ được vi khuẩn phân hủy và hoạt động sống của chúng cũng cần một lượng lớn ôxy.

Khi trời có nhiều mây mù hoặc mưa vài ngày liên tục, tảo sẽ không thể quang hợp tốt và sẽ không tạo ra nhiều ôxy.

Trong khi đó, mọi sinh vật sống trong ao (bao gồm tôm, tảo và vi sinh vật) đều sử dụng ôxy.

Ôxy hoà tan trong nước không đều và rất thấp ở giữa ao, nhất là những ao không có sự trao đổi nước thường xuyên và thả tôm mật độ cao.

Khi có nhiều tôm, người nuôi phải cung cấp nhiều thức ăn và màu nước ao sẽ đậm vì tảo phát triển dày đặc.

Nếu ôxy trong ao tôm từ 4 mg/l trở lên, cơ thể TTCT có màu sáng bình thường; những ao nuôi mật độ cao và ôxy hòa tan thấp thì tôm sẽ bị stress và cơ thể sẽ có xu hướng chuyển thành màu trắng hay mờ đục.

Khi hàm lượng ôxy xuống thấp 1,7 ppm thì tôm sẽ bơi lên mặt nước (tôm nổi đầu) và hầu hết sẽ chết khi lột xác.

Hiện tượng này đã được chứng minh ở phòng thí nghiệm Aquaculture Business Research Center của Đại học Kasetsart, Thái Lan.

Vậy, để phòng ngừa đục cơ trên tôm nuôi, cần luôn duy trì quạt nước cung cấp đủ hàm lượng ôxy hòa tan cho ao nuôi, giúp tôm hô hấp tốt và phát triển nhanh. tag: phần mềm pha dung dịch thuỷ canh

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/duc-co-tren-tom-va-nhung-cach-phong-ngua-36712.html

Làm giảm ô nhiễm ao nuôi tôm

Chọn công nghệ

Để hạn chế ô nhiễm trong ao nuôi đối với những địa phương có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng…, người nuôi có thể chọn công nghệ nuôi truyền thống phù hợp, gồm các loại hình: nuôi tôm sinh thái, nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến. tag: pha dung dịch thuỷ canh

Những loại hình nuôi này thường sử dụng thức ăn tự nhiên là chính, hoặc bổ sung một lượng nhỏ thức ăn.

Vừa hạn chế được ô nhiễm nước vừa có giá bán cao khi thu hoạch, phù hợp khả năng đầu tư của đa số hộ dân.

Đối với những doanh nghiệp nuôi và người dân có kinh nghiệm, có điều kiện kinh tế, có thể chọn những công nghệ nuôi tiên tiến, như: nuôi trải bạt nền đáy, nuôi tôm trong nhà kính, Biofloc, lọc tuần hoàn…

Những công nghệ này đều có điểm chung là vốn đầu tư lớn, tôm được thả nuôi với mật độ cao, các yếu tố môi trường được khống chế, hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng của bên ngoài đến ao nuôi, tạo điều kiện thuận lợi cho tôm sinh trưởng và phát triển tốt.

Ưu điểm của việc sử dụng các công nghệ này là chất thải của tôm trong quá trình nuôi được xử lý triệt để, không ảnh hưởng đến môi trường nước ao nuôi và xung quanh.

Cải tạo ao

Là khâu kỹ thuật quan trọng, góp phần hạn chế được nguồn ô nhiễm tiềm ẩn ao nuôi cả về môi trường và dịch bệnh. Do vậy trong quá trình cải tạo cần thực hiện các khâu kỹ thuật sau:

Thiết kế ao lắng, chiếm 10 – 15% diện tích ao nuôi. Ao là nơi lắng lọc và sử dụng hóa chất để xử lý nước trước khi cấp nước vào ao, đảm bảo nước khi được cấp vào ao phải trong, sạch và không có vi khuẩn gây bệnh.

Đối với ao mới đào, cần sử dụng vôi nông nghiệp CaO để trung hòa pH và tiêu diệt mầm bệnh, với liều lượng 12 – 15 kg/100 m2.

Vôi được rải đều trên bờ và đáy ao, dùng máy lồng cho vôi và bùn đáy ao lẫn vào nhau, ngâm nước sâu 5 cm từ 5 đến 7 ngày, sau đó bơm cạn, phơi đáy và lấy nước vào ao.

Ao đã nuôi được nhiều vụ cần sên vét hết lớp bùn đen ở đáy ao, dùng vôi rải xuống ao với liều lượng 10 – 12 kg/100 m2. Sau đó nên san phẳng nền đáy, hơi dốc về cống thoát, phơi ao 5 – 7 ngày.

Nếu người dân hoặc doanh nghiệp nuôi tôm có khả năng đầu tư, có thể trải bạt nền đáy hoặc bờ ao để hạn chế ô nhiễm từ đáy ao và thuận lợi cho việc định kỳ hằng tuần xi phông chất thải ra bên ngoài.

Chất lượng giống, mật độ thả

Chất lượng tôm giống có thể quyết định đến 60% tỷ lệ thành công. Để ao nuôi không bị ô nhiễm bởi dịch bệnh do giống kém chất lượng gây ra, người nuôi phải làm tốt khâu chọn giống ngay từ đầu. Giống nên được kiểm dịch bởi cơ quan có thẩm quyền và được cung cấp bởi những công ty có uy tín.

Thực tế nuôi tôm hiện nay, ngoài một số cá nhân và doanh nghiệp có khả năng đầu tư nuôi quy mô lớn, còn lại hầu hết đều các hộ nuôi nhỏ lẻ, khả năng đầu tư thấp.

Theo khuyến cáo của các chuyên gia, để nuôi tôm theo hướng bền vững, giảm thiểu ô nhiễm nước ao, người nuôi nên thả với mật độ vừa phải, tôm sú (10 – 20 con/m2), tôm thẻ chân trắng (40 – 60 con/m2).

Quản lý môi trường

Từ lúc cải tạo ao đến khi thả giống và thu hoạch, việc quản lý môi trường nước ao luôn được chú trọng và theo dõi chặt chẽ. Nên áp dụng quy trình kỹ thuật nuôi tôm sạch, hạn chế sử dụng hóa chất để xử lý môi trường ao nuôi.

Quản lý tốt sự phát triển của tảo trong ao nuôi, tránh hiện tượng tảo tàn, gây ô nhiễm nước ao.

Tăng cường sử dụng chế phẩm sinh học ( men vi sinh ) định kỳ để chuyển hóa các chất gây ô nhiễm thành dạng không độc hại, đồng thời phát triển các vi khuẩn có lợi cạnh tranh nơi sống và thức ăn của vi khuẩn có hại, khống chế không cho chúng bùng phát gây ô nhiễm, dịch bệnh cho ao nuôi.

Đối với nuôi tôm mật độ cao, lượng chất thải lớn, sinh ra nhiều khí độc trong nước; do vậy cần lắp đặt các dàn quạt lông nhím để hàm lượng ôxy từ không khí được cung cấp xuống tận đáy ao, giúp các phản ứng hóa học và quá trình phân hủy hiếu khí của vi khuẩn diễn ra thuận lợi hơn.

Thức ăn và cho ăn

Để tôm nuôi hấp thụ được tối đa lượng dinh dưỡng trong thức ăn, cần chọn loại thức ăn có chất lượng, phù hợp loài nuôi và với từng giai đoạn phát triển của tôm.

Tránh hiện tượng thức ăn kém chất lượng, chẳng những tôm hấp thu không hết chất dinh dưỡng trong thức ăn mà lượng chất thải ra nhiều hơn, làm tăng ô nhiễm nước ao.

Cùng với lựa chọn thức ăn tốt, việc cho tôm ăn đủ không những hạn chế được ô nhiễm của lượng thức ăn thừa gây ra mà còn tiết kiệm được chi phí trong nuôi tôm.

Cho tôm ăn cần tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật, đồng thời nên dựa theo sức ăn thực tế và những lần lột xác của tôm để có sự điều chỉnh hợp lý.

Nuôi ghép với loài khác

Để hạn chế chất thải trong quá trình nuôi tôm gây ô nhiễm môi trường nước ao, ngoài các biện pháp kể trên, hộ nuôi có thể sử dụng các mô hình nuôi ghép tôm với các loài khác (như cá rô phi, cá đối, cá dìa, rong câu, ốc hương…).

Mục đích dùng các loài nuôi ghép sử dụng lượng chất thải mà tôm thải ra làm thức ăn, hạn chế ô nhiễm môi trường nước ao, đồng thời tăng sản phẩm thu hoạch mỗi vụ nuôi.

Chọn loại hình nuôi hợp lý, cải tạo, quản lý môi trường ao nuôi tốt, sử dụng thức ăn phù hợp và nuôi ghép với những loài khác là những biện pháp cơ bản làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường ao nuôi tôm. tag: phần mềm pha dung dịch thuỷ canh

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/lam-giam-o-nhiem-ao-nuoi-tom-36704.html