Tag Archives: phần mềm trồng thuỷ canh

Bổ sung astaxanthin cho tôm sú bố mẹ và tôm sú thương phẩm

Một nhóm các nhà khoa học đã phát triển mô hình thí nghiệm để tìm ra liều lượng, thời gian bổ sung của các nguồn astaxanthin khác nhau trên tôm sú nuôi. Số lượng tối thiểu astaxanthin cần thiết cho sản xuất tôm ở quy mô thương mại đã được tính toán. tag: pha dung dịch thuỷ canh

Bổ sung astaxanthin trên tôm giúp cải thiện màu sắc của tôm nuôi. Ảnh: LL/Tepbac

Một thành phần thiết yếu trong thức ăn tôm là carotenoids, một nhóm các chất sắc tố thực vật tan trong chất béo. Carotenoid là dạng sắc tố hữu cơ có tự nhiên trong thực vật và các loài sinh vật quang hợp khác như là tảo, một vài loài nấm và một vài loài vi khuẩn. Trong tôm, carotenoids giúp tăng sự tăng trưởng và tỷ lệ sống, cải thiện sức đề kháng với stress cũng như khả năng sinh sản của tôm, nhưng chúng được sử dụng chủ yếu để cải thiện màu sắc của tôm.

Màu sắc quyết định giá tôm trên thị trường, nơi tôm được phân loại và đánh giá dựa trên màu sắc của chúng, tôm có màu đỏ đẹp sau khi luộc chín được coi là chất lượng cao hơn và được người tiêu dùng chấp nhận hơn. Tôm nuôi không thể tự tổng hợp carotenoids do đó màu sắc phụ thuộc vào loại, số lượng và thời gian bổ sung carotenoids vào trong thức ăn.

Carotenoid thường bổ sung vào thức ăn tôm là astaxanthin. Astaxanthin đại diện lên đến 98% tổng số carotenoid có trong tôm và có sự tích tụ mô hiệu quả nhất khi so sánh với carotenoid khác.

Astaxanthin (Ax) là một carotenoid, sắc tố này từ lâu được ứng dụng rộng rãi trong thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm và cả trong thức ăn thủy sản. Nấm men Phaffia rhodozyma và vi tảo lục Haematococcus pluvialis được xem là hai nguồn giàu astaxanthin trong tự nhiên. Tuy nhiên astaxanthin tổng hợp chiếm hơn 95% tổng số astaxanthin bán trên thị trường. Tuy nhiên, nhu cầu tiêu dùng đối với các sản phẩm tự nhiên đang thúc đẩy ngành công nghiệp phải đánh giá so sánh giữa các nguồn astaxanthin tự nhiên và tổng hợp.

Những báo cáo trước đây cho thấy sự cần thiết của việc bổ sung Astaxanthin tôm he Nhật bản (M. japonicus). Hàm lượng tối ưu của Ax khác nhau ở từng giai đoạn của tôm: đối với giai đoạn ấu trùng và post hàm lượng Ax nên bổ sung từ 100 – 200 ppm, đối với giai đoạn tiền trưởng thành hàm lượng Ax nên bổ sung vào thức ăn dao động từ 400 – 800 ppm.

Bổ sung astaxanthin trong tôm thương phẩm

Trong nghiên cứu này các nhà khoa học tại Trung tâm macroalgal thuộc Đại học James Cook và MBD Industries đã tiến hành một nghiên cứu để xác định số lượng cũng như ảnh hưởng của các loại astaxanthin trong chế độ ăn và thời gian bổ sung vào thức ăn của tôm sú Penaeus monodon. Thí nghiệm sử dụng vi tảo lục Haematococcus pluvialis như một nguồn astaxanthin tự nhiên để so sánh với một nguồn astaxanthin tổng hợp (nguồn gốc từ Thụy Sỹ chứa 10 % astaxanthin)

Nghiên cứu có 2 thử nghiệm 

– Thí nghiệm (1) để xác định nồng độ astaxanthin (32.5–102.5ppm) và thời gian bổ sung (29-69 ngày) cho từng nguồn astaxanthin vào thức ăn tôm để đạt được màu sắc tôm như mong muốn.

– Thí nghiệm (2) hàm lượng tối thiểu của astaxanthin cần thiết cho tôm sú đạt được màu sắc mong muốn theo tiêu chuẩn thương mại.

Haematococcus pluvialis là một trong những nguồn tự nhiên hứa hẹn nhất của astaxanthin.
Việc cung cấp astaxanthin, tự nhiên hoặc tổng hợp, ở bất kỳ nồng độ hoặc thời gian bổ sung nào cũng không có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng hoặc sự sống còn của tôm. Tuy nhiên, màu sắc của tôm sau khi nấu bổ sung Astaxanthin tự nhiên có sự khác biệt khi so sánh với astaxanthin tổng hợp.

Kết quả cũng chỉ ra rằng nồng độ astaxanthin và thời gian bổ sung có ảnh hưởng đáng kể đến màu sắc của tôm nấu chín, nơi nồng độ astaxanthin cao trong thời gian bổ sung lâu hơn dẫn đến cải thiện màu sắc tôm ở mức 98 ppm trong 66 ngày cho astaxanthin tự nhiên và 90 ppm trong 63 ngày đối với astaxanthin tổng hợp.

Haematococcus pluvialis của Marguerite Porter/Science as Art
Các nhà khoa học lưu ý các kết quả chính của nghiên cứu của họ là màu sắc của tôm đã được cải thiện bằng cách sử dụng astaxanthin tự nhiên so với astaxanthin tổng hợp; tăng nồng độ và thời gian bổ sung dẫn đến tôm nấu chín với một màu sắc tương tự như tiêu chuẩn thương mại. Bổ sung astaxanthin trên tôm sú ở mức 98 ppm trong 66 ngày khi dùng astaxanthin tự nhiên và 90 ppm trong 63 ngày khi dùng astaxanthin tổng hợp để có màu sắc tôm sú đạt chuẩn thương mại (Angell, A., de Nys, R., Mangott, A., & Vucko, MJ (2018)).

Bổ sung Astaxanthin vào thức ăn nuôi vỗ tôm bố mẹ

Nghiên cứu do nhóm tác giả Nguyễn Quang Huy, Vũ Văn Sáng, Vũ Văn In (Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1) đồng thực hiện. Nghiên cứu được đăng trên Tạp chí NN&PTNT, số 11/2018.

Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của việc bổ sung astaxanthin có nguồn gốc từ chủng vi khuẩn Paracoccus carotinifaciens vào thức ăn nuôi vỗ tôm sú (Penaeus monodon) đến chất lượng sinh sản của tôm. Thí nghiệm bố trí với 5 nghiệm thức thức ăn, gồm:

  • A100: thức ăn viên (thức ăn tổng hợp) bổ sung 100 mg astaxanthin/kg + thức ăn tươi (50% mực và 50% hồng trùng);
  • A250: thức ăn viên bổ sung 250 mg astaxanthin/kg + thức ăn tươi;
  • A400: thức ăn viên bổ sung 400 mg astaxanthin/kg + thức ăn tươi;
  • LF: 100% thức ăn tươi
  • LF250: 100% thức tươi, bổ sung 250 mg astaxanthin/kg thức ăn tươi.

Tôm cái được đánh dấu phân biệt từng cá thể và nuôi trong các bể riêng rẽ, mỗi bể có thể tích 8 m3 . Tôm đực được nuôi chung trong một bể và cho ăn hoàn toàn bằng thức ăn tươi sống. Tôm được cho ăn ngày 4 lần (7 h, 11 h, 17 h và 22 h). Đối với các nghiệm thức sử dụng thức ăn viên, thức ăn viên chỉ cho ăn 1 lần/ngày vào thời điểm 22 h, cho ăn thức ăn tươi sống vào các thời điểm còn lại. Kết quả thí nghiệm cho thấy tăng hàm lượng astaxanthin vào thức ăn nuôi vỗ không ảnh hưởng đến tăng trưởng của tôm nhưng có tác động tích cực đến chất lượng sinh sản của tôm. Bổ sung 400 mg astaxanthin/kg thức ăn vào thức ăn viên nuôi vỗ tôm sú bố mẹ đã nâng cao sức sinh sản và tỉ lệ nở của tôm. tag: phần mềm pha dung dịch thuỷ canh 

Điều gì xảy ra trên tôm nhiễm Vibrio harveyi và V. parahaemolyticus

Việc điều tra sự tương tác giữa vi khuẩn và vật chủ xảy ra trong đường tiêu hóa có thể dẫn đến các chiến lược mới để phòng ngừa hoặc kiểm soát các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn ở tôm nuôi. tag: pha dung dịch thuỷ canh

Ảnh minh họa: Internet

Trong nuôi trồng thủy sản, Vibrio harveyi (Vh) và V. parahaemolyticus (Vp) từ lâu đã được coi là các mầm bệnh nguy hiểm của tôm trong môi trường nước ngọt, nước lợ và mặn.

Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học Thái Lan đã sử dụng kính hiển vi điện tử (SEM) đề quan sát đường ruột tôm sú Penaeus monodon.

Tôm được gây nhiễm thực nghiệm 1 trong 2 mầm bệnh trên thông qua chế độ ăn Artemia có gắn kết vi khuẩn. Sau 6 giờ gây nhiễm, tiến hành đánh giá tác động của vi khuẩn trong đường ruột tôm.

Kết quả

Sự gia tăng có ý nghĩa về số lượng của V. harveyi trong đường ruột dẫn đến sự phát triển của các bệnh nhiễm trùng ở ruột trước và ruột giữa, nhưng không có ở ruột sau và hậu môn. SEM cũng cho thấy việc tạo ra các cấu trúc pili giống như peritrichous bởi V. parahaemolyticus gắn với lớp lót bề mặt ruột tôm, trong khi chỉ một lượng nhỏ nhỏ được tìm thấy khi V. harveyi xâm nhập vào biểu mô của vật chủ.

Thời điểm 1h không thấy vi khuẩn dính vào bề mặt dạ dày (A).
Nhiều tế bào vi khuẩn kết hợp với thức ăn được tìm thấy gắn vào niêm mạc của dạ dày (B).

Thời điểm 6h: Nhiều vi khuẩn hình que có hình thái đơn đã được gắn chặt với bề mặt dạ dày (C), bề mặt ruột trước (D) ruột giữa (E).

Các lớp biểu mô với vi khuẩn định cư có biểu hiện phá hủy ở cả dạ dày và ruột trên, trong khi các vùng sâu hơn không có vi khuẩn vẫn còn nguyên vẹn (G – L) Mũi tên là các tế bào vi khuẩn.

Sự phá huỷ nghiêm trọng của biểu mô ruột trước sau 24 giờ đã được quan sát thấy với sự biến mất của lớp biểu mô và sự phơi nhiễm của màng nền bên dưới (Hình F, G, H, I).

Trái ngược với những quan sát này, bề mặt ruột tôm không có biểu hiện như vậy khi thử nghiệm với Vibrio spp. không gây bệnh hoặc với Micrococcus luteus, không có thay đổi rõ rệt trên bề mặt ruột của vật chủ. Ở tôm sú, đường ruột là một vị trí đặt biệt thuận lợi cho phẩy khuẩn phát triển, và các vi khuẩn hình que ngắn này bao gồm những loài thuộc nhóm Vibrio spp.

Chu kỳ truyền nhiễm điển hình của các mầm bệnh trong tôm sú P. monodon bao gồm:

1) Sự xâm nhập của mầm bệnh thông qua đường uống;

2) Liên kết với chitin vào niêm mạc dạ dày, nhân lên và gây thiệt hại cho mô vật chủ;

3) Thoát khỏi cơ thể vật chủ. Mỗi bước sẽ liên quan đến sự bám dính, sản xuất các enzym, độc tố… làm phá hủy ruột và gan tụy tôm.

Kết luận

Các dữ liệu từ nghiên cứu này của các nhà khoa học Thái Lan cho thấy các mầm bệnh của tôm sú P. monodon phải có khả năng bám dính và gây hại trên bề mặt đường tiêu hoá, đặc biệt là ruột và sau đó chúng sử dụng một loạt các độc và các enzym để gây nhiễm trùng cho vật chủ và dẫn đến bệnh.

Việc điều tra sự tương tác giữa vi khuẩn và vật chủ xảy ra trong đường tiêu hóa có thể đưa ra các chiến lược mới để phòng ngừa hoặc kiểm soát các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn ở tôm nuôi. tag: phần mềm pha dung dịch thuỷ canh 

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/dieu-gi-xay-ra-tren-tom-nhiem-vibrio-harveyi-va-v-parahaemolyticus-5be503a7425cc571673b783e.html

Bệnh đen mang trên tôm sú, tôm thẻ, tôm hùm

Bài viết cung cấp nguyên nhân bệnh đen mang trên tôm và biện pháp điều trị.

Tôm bị đen mang do môi trường ô nhiễm. Ảnh: grist

1. Bệnh đen mang trên tôm sú, tôm thẻ

Nguyên nhân đen mang tôm:

– Bệnh đen mang là bệnh thường gặp ở tôm nuôi trong các ao nuôi có môi trường không tốt, mật độ nuôi dày. Môi trường nuôi bẩn có thể làm các mảnh vụn bám vào trong mang tôm làm cho mang tôm có màu đen. tag: pha dung dịch thuỷ canh

– Tôm trong ao có hiện tượng bị đóng rong, các sinh vật bám như động vật đơn bào, vi khuẩn dạng sợi, tảo, nấm bám trên mang và bề mặt cơ thể của tôm. Các sinh vật này tạo điều kiện cho các chất vẩn hữu cơ bám và làm mang tôm chuyển màu.

– Khi mang tôm bị nhiễm vi khuẩn hay nhiễm nấm Fusarium này cũng làm xuất hiện các sắc tố melanin làm mang tôm có màu đen. Khi tôm nhiễm nấm Fusarium: Có thể thấy được sợi nấm khi soi tươi mang tôm bệnh bằng kính hiển vi. Các loài nấm thuộc giống Fusarium có trong nước ngọt, nước lợ và đất ở khắp nơi. Tất cả các loài tôm nuôi đều có thể bị nhiễm nấm. Tôm gần trưởng thành và trưởng thành thường bị nhiễm nặng. Tôm sú và tôm thẻ tương đối đề kháng được với nấm nhưng khi bệnh xảy ra rất khó điều trị.

– Tôm sống trong điều kiện pH thấp, có nhiều ion kim loại nặng như nhôm, sắt, muối của các kim loại này kết tụ trên mang của tôm làm nó chuyển màu đen.

Tôm bị đen mang do ký sinh trùng. Ảnh: fisherynation
– Nghiên cứu mới đây cho thấy tôm thẻ còn bị đen mang bởi một ký sinh trùng (Hyalophysa chattoni).

Triệu chứng:

– Mang và vùng mô nối mang với thân tôm có màu nâu hoặc đen. Khi nhiễm nặng các phụ bộ, chân và đuôi cũng bị đen.

– Tôm nổi đầu do thiếu ôxy, bơi lờ đờ trên mặt nước, dạt vào bờ.

– Tôm giảm ăn, chậm lớn và chết khi có thêm các tác nhân khác.

– Mang tôm bị vi khuẩn, nấm hoặc nguyên sinh động vật ký sinh phá hủy khi bệnh nặng.

Đen mang làm tăng số lần lột xác của tôm, sự lột xác giúp tôm loại bỏ các mang hư hại nhưng nhiễm trùng nhanh chóng trở lại và tiếp tục làm mang tôm bi đen. Đen mang làm tôm suy yếu nhanh chóng, tôm chậm tăng trưởng và có khả năng chịu đựng kém hơn(Frede và cộng sự, 2015).

Trị bệnh:

Khi có hiện tượng bệnh lý xuất hiện cần tìm hiểu xem tôm bị đen mang do nguyên nhân nào.

– Nếu đen mang do ao bị ô nhiễm: Trong ao có nhiều chất ô nhiễm hữu cơ do thức ăn dư thừa, tảo tàn, đáy ao có nhiều mùn bã hữu cơ, hàm lượng nitrit, nitrat, và các khí độc… cần cải thiện điều kiện môi trường bằng việc xi phong bùn đáy ao, dùng yucca hấp thụ khí độc sau đó sử dụng men vi sinh liều cao (việc này có 2 mục đính đó là phân hủy mùn bã và cạnh tranh với vi khuẩn có hại) đồng thời bổ sung vitamin C vào thức ăn.

Lựa chọn hóa chất phù hợp cho từng nguyên nhân gây bệnh.

– Nếu đen mang do vi khuẩn và nấm cần: sử dụng hóa chất diệt khuẩn tham khảo: Tiêu chí lựa chọn sát khuẩn trong nuôi tôm có thể sử dụng BKC để diệt khuẩn, iodine liều cao để diệt vi khuẩn và nấm sau 3 ngày cấy men vi sinh có lợi cho ao.

– Do pH nước thấp, trong nước nếu có nhiều ion kim loại nặng (nhôm, sắt) sử dụng vôi để tăng pH với liều 20kg/1000m3 nước, dùng Natri thiosulphate để hấp thụ các kim loại nặng.

Phòng bệnh:

– Tẩy dọn ao kỹ trước khi thả tôm. Nếu có thể nên thiết kế hố xiphong để gom bùn thải trong ao và định kỳ xiphong nền đáy.

– Lắng lọc kỹ nước trước khi cấp vào ao nuôi, dùng thuốc diệt cá để diệt vật chủ trung gian mang mần bệnh vào ao nuôi.

– Chọn mật độ nuôi phù hợp với tay nghề và kỹ thuật.

– Kiểm soát tảo trong ao, tránh tảo tàn đồng loạt (dùng đường, BKC…)

– Tăng cường sục khí để tăng hàm lượng ôxy nhằm phân hủy mùn bã hữu cơ và cất độc. Định kỳ dùng yucca để hấp thụ khí độc cho ao nuôi tôm và tăng liều yucca khi thời gian nuôi càng dài.

– Tránh dư thừa thức ăn, định kì dùng men vi sinh để giảm phân hủy các chất ô nhiễm hữu cơ trong ao, giữ đáy ao sạch.

– Bổ sung Vitamin C và men tiêu hóa vào thức ăn.

2. Bệnh đen mang trên tôm hùm

Đối với tôm hùm, bệnh có thể xuất hiện ở cả tôm con và tôm trưởng thành.

Triệu chứng:

– Mang tôm có những điểm đen, các tơ mang chuyển màu đen, nếu bệnh nặng sẽ thấy mang thối rữa toàn bộ.

– Thân tôm xuất hiện những đốm đen, mắt cũng có thể chuyển sang màu đen.

– Tôm bỏ ăn, hô hấp kém, nằm dưới đáy lồng và có thể chết hàng loạt.

Nguyên nhân:

– Do môi trường nước ô nhiễm, nồng độ khí độc NH3 và H2S trong môi trường cao làm cho sắc tố melanin phát triển tại các mô của mang bị phá hủy.

– Do nhiễm vi khuẩn dạng sợi Vibrio, nhiễm nấm Fusarium.

– Do ký sinh trùng sán lá đơn chủ (xuất hiện nhiều sau các cơn mưa).

Phòng ngừa:

– Kiểm tra chất lượng nước thường xuyên để xử lý kịp thời.

– Cho ăn thức ăn chất lượng tốt, kiểm tra và điều chỉnh lượng thức ăn hợp lý, không để thừa thức ăn làm ô nhiễm nước.

Xử lý:

– Treo những túi vải có chứa vôi ở giữa lồng tôm hoặc đặt ở những vùng đáy lồng nuôi bị ô nhiễm để diệt ký sinh trùng, nấm, vi khuẩn. tag: phần mềm pha dung dịch thuỷ canh 

– Tắm cho tôm bằng formol hoặc sulfat đồng, thả nuôi ở một lồng khác.

– Dùng thuốc kháng sinh trộn vào thức ăn, chú ý dùng đúng loại thuốc, đúng liều lượng, đúng thời gian. Việc sử dụng kháng sinh chỉ có kết quả khi phát hiện bệnh sớm. Thời gian điều trị bằng kháng sinh từ: 5 – 7 ngày.

Nuôi sò huyết xen canh trong vuông tôm

Làm chơi ăn thiệt

Từ năm 2006, người dân địa phương tình cờ phát hiện dưới dòng nước đặc quánh phù sa của kinh Xáng Đông Hưng (xã Đông Thới, H.Cái Nước) có nhiều sò huyết tự nhiên, nhất là thời điểm trước và sau Tết Nguyên đán. Sò lớn được bà con thu hoạch bán cho thương lái, sò nhỏ được vài hộ dân thu gom rồi thả vô vuông tôm. Việc sò tự nhiên nuôi xen canh trong vuông tôm sú lớn rất nhanh đã mở ra cơ hội mới cho người dân Đông Thới. Nhiều hộ dân bắt đầu thả sò giống nuôi thử rồi dần dà phát triển sang xã Trần Thới lân cận… tag: pha dung dịch thuỷ canh

Gia đình ông Nguyễn Văn Tám, ở đầu kinh Thầy Tư, là một trong những hộ đầu tiên nuôi sò huyết thành công ở xã Đông Thới. Chỉ có 6 công đất vuông tôm quảng canh nhưng sau gần 7 năm nuôi sò huyết, gia đình ông Tám từ chỗ chỉ đủ ăn giờ đã sang, cố thêm được trên 9 công đất để nuôi tôm và sò huyết, trở thành hộ giàu của địa phương. Hiện gia đình ông Tám đang chuẩn bị khởi công xây dựng căn nhà mới. Ông Tám cho biết: “Nuôi sò huyết không bao giờ bị lỗ, tệ lắm cũng “một vốn bốn lời”. Con tôm có thất thì cũng còn con sò gỡ lại”.

Ông Nguyễn Văn La, cán bộ khuyến nông – khuyến ngư xã Đông Thới, cho biết toàn xã hiện có trên 2.000 ha nuôi sò huyết xen canh với các loài thủy sản khác, không ít hộ chuyên canh nuôi sò mật độ cao (khoảng 50 con/m2), tập trung nhiều ở 2 ấp Kinh Lớn và Khánh Tư. Theo Phòng NN-PTNT H.Cái Nước, đến nay, sò huyết nuôi xen canh với tôm, cua trong vuông đã trở nên phổ biến ở xã Đông Thới và Trần Thới với tổng diện tích trên 6.600 ha.

Hỗ trợ nông dân

Thời gian qua, ngành chức năng H.Cái Nước tổ chức nhiều lớp tập huấn giúp bà con nắm được kỹ thuật nuôi, giảm rủi ro, tăng hiệu quả. Cuối năm 2012 và đầu năm 2013, chính quyền xã Đông Thới cũng thành lập được 2 tổ hợp tác nuôi sò huyết thương phẩm ở ấp Khánh Tư lấy tên là Như Ý và tổ hợp tác nuôi sò huyết ở ấp Kinh Lớn, lấy tên là Nhà Thính B với trên 30 tổ viên tham gia nuôi sò mật độ cao, diện tích hơn 25 ha.

Theo ông Danh Văn Đô, Tổ trưởng Tổ hợp tác Như Ý, dù chưa chiết tính được cụ thể năng suất nhưng theo nhẩm tính kiểu nhà nông của ông, bình quân thả 1 kg sò giống sau khi nuôi từ 6 – 12 tháng sẽ thu hoạch được từ 8 – 10 kg sò huyết thương phẩm. “Nếu nuôi mật độ vừa phải thì 1 ha thả được khoảng 200 kg sò giống (loại sò tiêu từ 1.000 – 2.000 con/kg). Sau 12 tháng sẽ thu hoạch, giá bán từ 60.000 – 100.000/kg, mỗi ha nuôi sò sau khi trừ chi phí (khoảng 50.000 đồng/kg sò giống), người nuôi sò còn lời không dưới 100 triệu đồng. Đó là chưa tính nguồn thu từ con tôm, con cua, con cá”, ông Đô tiết lộ.

Theo Phòng NN-PTNT H.Cái Nước, hiện người nuôi sò huyết tại địa phương phụ thuộc vào nguồn giống thu gom từ các hộ khai thác tự nhiên trên dòng kinh xáng Đông Hưng nên rất hạn chế vì phụ thuộc thời vụ. Tuy nhiên, nuôi sò huyết xen canh là một trong những mô hình nuôi hiệu quả vì vốn đầu tư ít, không tốn tiền mua thức ăn cho sò và không tốn công chăm sóc. Ông Nguyễn Thanh Giảng, Trưởng phòng NN-PTNT H.Cái Nước, khuyến cáo: “Để nuôi sò đạt hiệu quả như mong muốn, bà con nên thả sò giống vào những tháng có độ mặn cao, phù hợp nhất là thời điểm sau Tết Nguyên đán và nên thường xuyên tháo nước ra vào trong vuông tôm để có thêm phù sa, vì sò là loài ăn lọc”. tag: phần mềm pha dung dịch thuỷ canh 

Nuôi sò huyết xen canh trong vuông tôm

Làm chơi ăn thiệt

Từ năm 2006, người dân địa phương tình cờ phát hiện dưới dòng nước đặc quánh phù sa của kinh Xáng Đông Hưng (xã Đông Thới, H.Cái Nước) có nhiều sò huyết tự nhiên, nhất là thời điểm trước và sau Tết Nguyên đán. Sò lớn được bà con thu hoạch bán cho thương lái, sò nhỏ được vài hộ dân thu gom rồi thả vô vuông tôm. Việc sò tự nhiên nuôi xen canh trong vuông tôm sú lớn rất nhanh đã mở ra cơ hội mới cho người dân Đông Thới. Nhiều hộ dân bắt đầu thả sò giống nuôi thử rồi dần dà phát triển sang xã Trần Thới lân cận… tag: pha dung dịch thuỷ canh

Gia đình ông Nguyễn Văn Tám, ở đầu kinh Thầy Tư, là một trong những hộ đầu tiên nuôi sò huyết thành công ở xã Đông Thới. Chỉ có 6 công đất vuông tôm quảng canh nhưng sau gần 7 năm nuôi sò huyết, gia đình ông Tám từ chỗ chỉ đủ ăn giờ đã sang, cố thêm được trên 9 công đất để nuôi tôm và sò huyết, trở thành hộ giàu của địa phương. Hiện gia đình ông Tám đang chuẩn bị khởi công xây dựng căn nhà mới. Ông Tám cho biết: “Nuôi sò huyết không bao giờ bị lỗ, tệ lắm cũng “một vốn bốn lời”. Con tôm có thất thì cũng còn con sò gỡ lại”.

Ông Nguyễn Văn La, cán bộ khuyến nông – khuyến ngư xã Đông Thới, cho biết toàn xã hiện có trên 2.000 ha nuôi sò huyết xen canh với các loài thủy sản khác, không ít hộ chuyên canh nuôi sò mật độ cao (khoảng 50 con/m2), tập trung nhiều ở 2 ấp Kinh Lớn và Khánh Tư. Theo Phòng NN-PTNT H.Cái Nước, đến nay, sò huyết nuôi xen canh với tôm, cua trong vuông đã trở nên phổ biến ở xã Đông Thới và Trần Thới với tổng diện tích trên 6.600 ha.

Hỗ trợ nông dân

Thời gian qua, ngành chức năng H.Cái Nước tổ chức nhiều lớp tập huấn giúp bà con nắm được kỹ thuật nuôi, giảm rủi ro, tăng hiệu quả. Cuối năm 2012 và đầu năm 2013, chính quyền xã Đông Thới cũng thành lập được 2 tổ hợp tác nuôi sò huyết thương phẩm ở ấp Khánh Tư lấy tên là Như Ý và tổ hợp tác nuôi sò huyết ở ấp Kinh Lớn, lấy tên là Nhà Thính B với trên 30 tổ viên tham gia nuôi sò mật độ cao, diện tích hơn 25 ha.

Theo ông Danh Văn Đô, Tổ trưởng Tổ hợp tác Như Ý, dù chưa chiết tính được cụ thể năng suất nhưng theo nhẩm tính kiểu nhà nông của ông, bình quân thả 1 kg sò giống sau khi nuôi từ 6 – 12 tháng sẽ thu hoạch được từ 8 – 10 kg sò huyết thương phẩm. “Nếu nuôi mật độ vừa phải thì 1 ha thả được khoảng 200 kg sò giống (loại sò tiêu từ 1.000 – 2.000 con/kg). Sau 12 tháng sẽ thu hoạch, giá bán từ 60.000 – 100.000/kg, mỗi ha nuôi sò sau khi trừ chi phí (khoảng 50.000 đồng/kg sò giống), người nuôi sò còn lời không dưới 100 triệu đồng. Đó là chưa tính nguồn thu từ con tôm, con cua, con cá”, ông Đô tiết lộ.

Theo Phòng NN-PTNT H.Cái Nước, hiện người nuôi sò huyết tại địa phương phụ thuộc vào nguồn giống thu gom từ các hộ khai thác tự nhiên trên dòng kinh xáng Đông Hưng nên rất hạn chế vì phụ thuộc thời vụ. Tuy nhiên, nuôi sò huyết xen canh là một trong những mô hình nuôi hiệu quả vì vốn đầu tư ít, không tốn tiền mua thức ăn cho sò và không tốn công chăm sóc. Ông Nguyễn Thanh Giảng, Trưởng phòng NN-PTNT H.Cái Nước, khuyến cáo: “Để nuôi sò đạt hiệu quả như mong muốn, bà con nên thả sò giống vào những tháng có độ mặn cao, phù hợp nhất là thời điểm sau Tết Nguyên đán và nên thường xuyên tháo nước ra vào trong vuông tôm để có thêm phù sa, vì sò là loài ăn lọc”. tag: phần mềm pha dung dịch thuỷ canh 

Mô hình thích hợp để ương ấu trùng tôm sú

Nghiên cứu này của Lê Quốc Việt và Trần Ngọc Hải 2018 nhằm xác định mô hình ương thích hợp cho sự tăng trưởng, tỷ lệ sống của ấu trùng và hậu ấu trùng tôm sú. tag: pha dung dịch thuỷ canh

Tôm sú bố mẹ. Ảnh minh họa: Internet

Nhằm hướng đến sự phát triển bền vững và đánh giá năng suất để tìm ra mô hình sản xuất giống đạt hiệu quả cao và chất lượng tôm giống được cải thiện, nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm xác định mô hình ương ấu trùng tôm sú thích hợp cho tăng trưởng, tỷ lệ sống và nâng cao chất lượng tôm giống.

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên và mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần.

Các nghiệm thức thí nghiệm bao gồm:

(1) Ương ấu trùng theo mô hình tuần hoàn (MHTH)

(2) Ương ấu trùng theo mô hình thay nước (MHTN)

(3) Ương ấu trùng theo mô hình sử dụng chế phẩm yucca (CPY)

(4) Ương ấu trùng theo mô hình ứng dụng công nghệ biofloc (CNB).

Thí nghiệm được bố trí trong nhà kính có mái tole sáng và tole tối xen kẽ. Bể được sử dụng trong thí nghiệm là bể composite 0,5 m3; nước ương có độ mặn 30‰, độ kiềm 120 mg CaCO3/L và mật độ 150 con/L. Khi ấu trùng chuyển sang giai đoạn Mysis-1, thì bắt đầu vận hành hệ thống tuần hoàn và các nghiệm thức còn lại bắt đầu thay nước, đối với nghiệm thức biofloc thì bổ sung carbohydrate từ rỉ đường với tỷ lệ C:N = 30:1 và sử dụng Vimeyucca đối với nghiệm thức sử dụng CPY với lượng 10 mL/m3/3 ngày. Đối với nghiệm thức tuần hoàn, hệ thống tuần hoàn được sử dụng vật liệu lọc là các hạt giá thể nhựa, được rửa sạch và cho vào bể lọc. Bể lọc có thể tích 0,4 m3 (chứa 0,25 m3 giá thể lọc) và được kết nối với hệ thống ương gồm 3 bể (0,5 m3/bể).

Cho ấu trùng ăn: 

• Thức ăn cho ấu trùng tùy thuộc vào giai đoạn phát triển của ấu trùng, khi ấu trùng chuyển sang giai đoạn Zoea-1 khoảng 90% thì tiến hành cho ăn tảo Chaetoceros sp với mật độ 70.000-100.000 tế bào/mL (cho ăn 8 lần/ngày: 6, 9, 12, 15, 18, 21, 24 và 3h).

• Trong lần cho ăn đầu tiên (giai đoạn Zoea-1) tiến hành bổ sung men tiêu hóa Antibio-pro cho ấu trùng sau khi cho ăn tảo tươi lần đầu tiên với lượng 1g/m3/lần.

• Giai đoạn Zoea-2 cho ăn thức ăn tổng hợp (50% Lansy ZM + 50% Frippak-1), với lượng từ 1-2 g/m3/ngày. Giai đoạn Mysis cho ăn thức ăn tổng hợp (50% Lansy ZM + 50% Frippak-2) và Artemia bung dù (lượng thức ăn tổng hợp từ 3-4 g/m3/ngày và Artemia bung dù là 2 g/m3/lần).

• Giai đoạn PL thì cho ăn thức ăn tổng hợp (Frippak-150) với lượng 5-6 g/m3/ngày và Artemia mới nở với lượng 2 g/m3/lần.

Trong tất cả các nghiệm thức, ấu trùng được cho ăn với lượng thức ăn và số lần cho ăn giống nhau (8 lần/ngày). Khi ấu trùng chuyển sang Mysis, cho ăn 4 lần/ngày đối với thức ăn tổng hợp (6, 12, 18 và 24h) và 4 lần/ngày đối với Artemia (3, 9, 15 và 21h). Đối với nghiệm thức ương tuần hoàn, tắt hệ thống tuần hoàn trước và sau khi cho ăn 30 phút thì cho hệ thống tuần hoàn hoạt động trở lại. Định kỳ 3 ngày/lần, thay nước 30% lượng nước trong bể ương (nghiệm thức thay nước), sử dụng Vime-Yucca với liều 10 mL/m3  (nghiệm thức CPY), bón rỉ đường (nghiệm thức biofloc) và đối với nghiệm thức tuần hoàn thì không thay nước trong suốt quá trình ương.

Cách tạo biofloc:

Bổ sung nguồn carbohydrate từ mật rỉ đường và được bổ sung trực tiếp vào bể ương từ giai đoạn Mysis 1. Phương thức bổ sung mật rỉ đường dựa theo hàm lượng protein trong thức ăn tổng hợp, rỉ đường được bổ sung 3 ngày/lần, lượng carbohydrate trong mật rỉ đường là 46,7%. Cách tính hàm lượng carbon cần bổ sung để đạt được tỷ lệ C:N = 30:1 như sau:

CTA = 50% x lượng thức ăn bổ sung vào 

NTA = % Protein x 16% x lượng thức ăn bổ sung vào

CBS = 30 x NTA- CTA 

Trong rỉ đường có 46,7% lượng carbon

Lượng rỉ đường cần bón = CBS x 100/46,7 

Trong đó:

CTA : là lượng carbon có trong thức ăn

CBS : là lượng carbon cần bổ sung vào hệ thống

NTA : là lượng nitrogen có trong thức ăn

50% : là lượng carbon có trong thức ăn chiếm 50%

0,16 : là lượng nitrogen chiếm 16% trong protein

30 : là tỉ lệ C:N cần cung cấp

Kết quả:

Trong suốt quá trình thí nghiệm, các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH, độ kiềm, TAN, nitrite và mật độ vi khuẩn ở các nghiệm thức đều nằm trong khoảng thích hợp cho sự phát triển của ấu trùng và tôm post. Ương ấu trùng tôm sú trong các hệ thống như: tuần hoàn, CPY, thay nước và biofloc, chất lượng của tôm PL thu được đều đạt kết quả tốt như nhau. Tuy nhiên ương ấu trùng tôm sú trong hệ thống tuần hoàn và mô hình sử dụng chế phẩm yucca CPY thì tôm tăng trưởng nhanh (PL10: 9,58 – 9,60 mm), đạt tỷ lệ sống (43,9 – 51,8%) và năng suất cao (77.089 – 86.746 PL10/m3).

Từ nghiên cứu trên cung cấp cho người nuôi những hệ thống ương ấu trùng tôm sú hiệu quả có thể áp dụng vào thực tiễn. tag: phần mềm pha dung dịch thuỷ canh 

Trích dẫn: Trần Ngọc Hải và Lê Quốc Việt, 2018. Thực nghiệm ương ấu trùng tôm sú (Penaeus monodon) với các mô hình khác nhau.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/mo-hinh-thich-hop-de-uong-au-trung-tom-su-5df9995c425cc5e5233aa645.html

Bổ sung mật rỉ đường trong ương nuôi ấu trùng tôm sú

Nghiên cứu nhằm tìm ra thời điểm bổ sung carbohydrate từ rỉ đường thích hợp nhất lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng và hậu ấu trùng tôm sú. tag: pha dung dịch thuỷ canh

Mật rỉ đường – Ảnh: Oh My Veggies

Để làm cơ sở cho xây dựng qui trình sản xuất giống tôm sú theo công nghệ biofloc, việc xác định thời điểm bổ sung nguồn carbohydrate là rất cần thiết. Chính vì thế nghiên cứu : “Ương ấu trùng tôm sú bằng công nghệ biofloc từ nguồn carbohydrate rỉ đường theo giai đoạn ấu trùng và hậu ấu trùng tôm” được thực hiện nhằm đánh giá tăng trưởng và tỷ lệ sống của hậu ấu trùng tôm sú.

Bổ sung mật rỉ đường trong ương nuôi ấu trùng tôm sú

Biofloc được tạo bằng nguồn carbohydrate từ rỉ đường có hàm lượng C là 46,7%. Rỉ đường được hòa vào nước theo tỷ lệ 1 rỉ đường, 3 nước rồi ủ 48 giờ sau đó bổ sung trực tiếp vào bể ương. Lượng rỉ đường được bổ sung 3 ngày một lần được tính theo tỷ lệ C/N trong thức ăn để bổ sung, tùy vào lượng thức ăn sử dụng cho tôm ăn mà thêm lượng rỉ đường để đạt được tỷ lệ C/N = 25. Lượng rỉ đường cần bổ sung vào bể để tạo biofloc được tính dựa theo công thức có cải tiến của Lục Minh Diệp (2012).

∆N = WTA x %PrTA X 0,08

∆C = 25 X ∆N 

∆CH= ∆C : 50%

Trong đó, ∆N: Lượng nitơ có trong thức ăn; ∆C: Carbon cần bổ sung; ∆CH: Lượng carbohydrate cần bổ sung; WTA Lượng thức ăn cho ăn hàng ngày; %PrTA: Protein trong thức; 0,08: Là (lượng Nito có trong thức ăn (16%), (%N) thải ra (50%); 25: Tỷ lệ C:N cần cung cấp là 25:1; 50%: Tỷ lệ carbon trong carbohydrate bổ sung.

Bố trí thí nghiệm Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần, cách bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên. Bể ương có thể tích 500 L, độ mặn 30‰. Mật độ ương ấu trùng 150 con/L.

+ Nghiệm thức 1: Bổ sung mật rỉ đường ở giai đoạn Mysis-1

+ Nghiệm thức 2: Bổ sung mật rỉ đường ở giai đoạn Mysis-3

+ Nghiệm thức 3: Bổ sung mật rỉ đường ở giai đoạn Postlarve-2

+ Nghiệm thức 4: Bổ sung mật rỉ đường ở giai đoạn Postlarve-4

Chăm sóc ấu trùng và hậu ấu trùng

Khi ấu trùng Nauplius chuyển sang ấu trùng Zoea-1 thì cho ăn tảo tươi Chaetoceros sp với mật độ 60.000–120.000 tế bào/ml kết hợp thức ăn nhân tạo (50% Lansy ZL + 50% Frippak-1) với lượng 1– 2 g/m3/ngày.

Giai đoạn ấu trùng Mysis cho tôm ăn thức ăn nhân tạo (50% Lansy ZL + 50% Frippak-2) với lượng thức ăn là 3-4 g/m3/ngày và Artemia bung dù 2 g/m3/lần.

Đến giai đoạn tôm PL-1-PL-6 cho tôm ăn thức ăn Frippak-150, từ PL-7-PL-15 cho ăn Lansy PL từ 2-6 g/m3/lần, Artemia mới nở 4 g/m3/lần (Châu Tài Tảo, 2013).

Trong suốt quá trình ương, không thay nước, chỉ cấp thêm nước hao hụt do siphon.

Các chỉ tiêu như các thông số môi trường nước, chiều dài tổng của các giai đoạn, tỉ lệ sống, năng suất, chất lượng ấu trùng tôm PL15 được kiểm tra.

Kết quả và đề xuất

Các yếu tố môi trường, mật độ vi khuẩn và chỉ tiêu biofloc của các nghiệm thức nằm trong khoảng thích hợp cho tôm sinh trưởng và phát triển tốt từ giai đoạn Mysis 3 đến PL2.

Tăng trưởng về chiều dài, tỷ lệ sống và năng suất của tôm ở giai đoạn PL-15 lớn nhất ở nghiệm thức bổ sung rỉ đường từ giai đoạn Mysis-3. Chất lượng tôm PL-15 ở tất cả các nghiệm thức trong thí nghiệm đạt chất lượng tốt và sạch bệnh đốm trắng, bệnh EMS/AHPND, bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan lập biểu mô (IHHNV).

Nếu ương ấu trùng tôm sú có bổ sung rỉ đường từ giai đoạn Mysis-3 thì tôm PL-15 có tăng trưởng, tỷ lệ sống và năng suất cao nhất do đó công nghệ biofloc có thể được ứng dụng để ương giống tôm sú từ giai đoạn Mysis-3 vào trong thực tế sản xuất giống. tag: phần mềm pha dung dịch thuỷ canh 

Tác giả nghiên cứu: Châu Tài Tảo, Lý Văn Khánh và Trần Ngọc Hải của Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ. Báo cáo được đăng trên Tạp Chí Khoa Học Trường Đại Học Cần Thơ.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/bo-sung-mat-ri-duong-trong-uong-nuoi-au-trung-tom-su-5de47cac425cc59b426ae85f.html

Ngăn ngừa mầm bệnh trong trại sản xuất giống

Cơ sở vật chất

Xây dựng trại giống phải đạt tiêu chuẩn kỹ thuật. Khi quy hoạch các khu sản xuất giống phải khảo sát chọn lựa địa điểm nuôi phù hợp, thuận lợi, trong đó nguyên tắc quan trọng nhất là không bị các hoạt động sản xuất của khu vực xung quanh gây cản trở hoặc làm ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, các yếu tố khác cũng phải phù hợp như chất lượng nước, độ pH, độ mặn, tính chất của đất. tag: pha dung dịch thuỷ canh

Nâng cao chất lượng tôm bố mẹ

Tất cả tôm giống bố mẹ được nhập về từ trang trại nuôi phải qua khu vực cách ly và được kiểm tra hết sức cẩn thận để ngăn chặn sự xâm nhập của tôm nhiễm bệnh vào khu vực nuôi thành thục sinh sản. Khi đã có kết quả, các con tôm bố mẹ được chia theo lô và phân phối đến các bể. Lời khuyên cho các trang trại sản xuất giống là nên lưu trữ các dữ liệu về chu kỳ sản xuất của mỗi lô tôm bố mẹ, từ đó có thể xác định được lô nào cho sản lượng trứng và ấu trùng tốt.

Trong quá trình nuôi, các thông số quan trọng nhất được duy trì trong khu vực này, trong đó nhiệt độ nước 28 – 340C, có sục khí mạnh ở giữa bể. Nước phải được thay hàng ngày để tạo và duy trì một môi trường thuận lợi cho sinh sản, trong điều kiện ánh sáng yếu, và trên hết là tránh ồn ào bởi nó có thể tác động không tốt đến tôm bố mẹ.

Hàng ngày, sử dụng đèn để kiểm qua sự xuất hiện của trứng và quan sát mức độ phát triển của tuyến sinh dục. Dùng vợt bắt nhẹ nhàng những con cái được chọn, sau đó xử lý một cách cẩn thận.

Thực hiện an toàn sinh học

Tất cả các dụng cụ được sử dụng (bể, thùng, pipet) phải được vệ sinh sạch sẽ bằng nước ngọt và được xử lý bằng chlorine ít nhất một lần/tuần.

Trên mỗi bể ương, cần được che chắn bằng bạt (tối nhất là loại geomembrane). Sau mỗi đợt sản xuất, cần vệ sinh sạch sẽ.

Tối thiểu 2 lần/tuần gửi mẫu ấu trùng tôm đến phòng thí nghiệm bệnh học để xét nghiệm. Nếu phát hiện mầm bệnh, các nhà sinh học cần có biện pháp xử lý đối với bể bị nhiễm, bể đó có thể được giữ lại hay cần loại bỏ ngay.

Đảm bảo chất lượng nước

Khi đã xác định được cụ thể ngày thả nuôi thì nước sẽ phải xử lý trước, nhiệt độ được quy định là 290C và hệ thống sục khí được kiểm tra nhằm đảm bảo hàm lượng ôxy hòa tan được duy trì ở mức tối ưu.

Lưu ý tránh việc có quá nhiều chất hữu cơ trong bể nuôi vì điều này có thể thúc đẩy sự phát triển của các loài nguyên sinh động vật, chúng bám vào mang tôm và cản trở quá trình hô hấp của tôm. Nếu vi tảo rơi xuống đáy bể và hình thành các bong bóng thì có thể tôm sẽ bị dính vào đó; quá trình lột xác có thể bị chậm lại ở các ấu trùng yếu và không ăn.

Trong quá trình sống và phát triển ấu trùng sẽ thải phân và vỏ (do lột xác) làm dơ bẩn nước nuôi. Vì vậy muốn giữ ổn định môi trường nuôi, hàng ngày phải tiến hành vệ sinh, thay nước.

Xi phông đáy: Giảm nhẹ sục khí, dùng ống xi phông hút ra toàn bộ đáy bể, loại bỏ hết cặn bã, thức ăn dư thừa, vỏ và xác ấu trùng chết ra ngoài qua vợt.

Thay nước: Dùng dụng cụ thay nước hút nước ra ngoài đến mức cần thay, sau đó cấp nước mới có cùng điều kiện thủy lý, hóa vào (để tránh xảy ra sự thay đổi đột ngột về môi trường).

Ngăn chặn mầm bệnh vào thức ăn tươi sống

Nhiều loài vi tảo hiện vẫn là nguồn thức ăn tươi sống không thể thiếu đối với ấu trùng tôm, thường được nuôi trong nước biển tự nhiên đã qua xử lý, có bổ sung thêm các dưỡng chất như: nitrat, phosphat, các nguyên tố vi lượng thiết yếu, vitamin và khí cacbonic. Chúng thường được nuôi tại chỗ trong những điều kiện thiếu kiểm soát. Đây là nơi các vi khuẩn gây bệnh có thể sinh sôi, phát triển do mức độ tập trung cao của các chất hữu cơ trong môi trường nuôi. Do vậy, tảo có thể là nơi trú ẩn của các vi khuẩn gây bệnh. Vì vậy, cần có biện pháp để ngăn chặn sự xâm nhập của các tác nhân gây ô nhiễm vào khu vực như thực hiện các quy trình khử trùng cá nhân và quần áo của người xử lý mặc được tiệt trùng hàng ngày. Làm sạch tất cả các thiết bị thủy tinh. Các thùng chứa được làm sạch và khử trùng bằng xà phòng trung tính và acid loãng, sau đó các dụng cụ này được để khô và được khử trùng dưới áp suất và nhiệt độ cao.

Với thể tích nuôi cấy lớn hơn, nên tăng mức độ chiếu sáng và sục khí môi trường nuôi bằng hỗn hợp không khí hoặc khí carbonic. Việc pha loãng độ mặn của môi trường (khoảng 20 – 25‰) để nuôi các loài tảo silic giúp đạt được tốc độ phát triển tốt nhất.

Có phòng thí nghiệm sinh học

Những năm qua, có rất nhiều bệnh là nguyên nhân chính dẫn đến ấu trùng tôm chết với số lượng lớn, gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho người sản xuất, có những lúc trại giống phải xả bỏ hết tôm ở các bể khi sự tồn tại của mầm bệnh được khẳng định. Đó là lý do tại sao các cơ sở sản xuất giống phải có một phòng thí nghiệm sinh học thích hợp để phát hiện sự có mặt của các virus gây bệnh, các vi sinh vật kí sinh nội bào, vi khuẩn, nấm, các nguyên sinh động vật nội và ngoại ký sinh, các sinh vật sống cộng sinh gây bệnh, các loại độc tố và nhiều yếu tố khác.

Cần có một bộ phận thực hiện việc lấy mẫu hàng ngày ở tất cả các giai đoạn phát triển của ấu trùng. Nhờ vậy, có thể nhanh chóng xác định được sự hiện diện của các mầm bệnh nhằm, từ đó thực hiện các hành động thích hợp khi mà yếu tố thời gian có thể quyết định sự sống hoặc chết của ấu trùng tôm. tag: phần mềm pha dung dịch thuỷ canh

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/ngan-ngua-mam-benh-trong-trai-san-xuat-giong-5b754030425cc587287d5c6a.html

Xử lý phèn trong nuôi tôm

Nguyên nhân đất phèn

Quá trình hình thành đất phèn là do các chất hữu cơ bị tích tụ phân huỷ trong điều kiện yếm khí có các tập đoàn vi khuẩn khử sunfua, chúng chuyển hoá các hợp chất lưu huỳnh (trong thực vật, trong đất, trong nước biển) thành dạng khí sunfua hydro (H2S), khí này thâm nhập vào nước ngầm và kết hợp với sắt (II) tạo thành sắt sunfua và tiếp tục chuyển hoá thành sắt bisunfua (pyrit, FeS2) dạng tinh thể với phản ứng sau:

2CH2O (hữu cơ) + SO42-  →  H2S + 2HCO3-

Fe(OH)2 + H2S           →    FeS + H2O

FeS + S          →    FeS2 (pyrit)

Việc rút nước quá cạn hay vào mùa khô hạn sẽ làm cho đất nứt nẻ, không khí theo các đường nứt này di chuyển xuống dưới tầng đất có chứa phèn tiềm tàng, do trong không khí có ôxy nên khi được tiếp  xúc với không khí sẽ xảy ra quá trình oxy hoá pyrit và sinh ra axit sunfuaric:

4FeS2 (pyrit) + 15O2 + 14H2O → 4Fe(OH)3  + 8SO42- + 16H+

Ảnh hưởng

Tôm bị mềm vỏ kéo dài. Ao bị nhiễm phèn lượng canxi và khoáng chất cần thiết cho quá trình tạo vỏ luôn bị thiếu hụt. Vì vậy việc bổ sung vôi vào những ao bị phèn cần một lượng rất lớn và hợp chất tạo thành là thạch cao không có lợi nhiều cho ao nuôi. tag: pha dung dịch thuỷ canh

Tôm lột xác không hoàn toàn dẫn đến tỷ lệ sống rất thấp.

Tôm chậm lớn, màu sắc kém. Trong môi trường ao nuôi bị nhiễm phèn, pH thấp sẽ có tốc độ tăng trưởng chậm hơn so với các ao khác không nhiễm phèn, sắc tố kém… quá trình hô hấp với tần suất cao làm tôm tiêu hao năng lượng lớn, các hoạt động của enzyme ngừng trệ, hấp thu khoáng chất kém dẫn đến khả năng tăng trưởng của vật nuôi bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Ảnh hưởng đến quá trình hô hấp. Tôm sống trong vùng đất nhiễm phèn thì quá trình hô hấp tăng cao vì khả năng gắn kết giữa ôxy và hemoglobin giảm do đó sẽ tiêu hao nhiều năng lượng cho quá trình hô hấp, giảm sức tăng trưởng, sinh sản…

Nồng độ pH thấp làm cho lượng khí H2S trở nên độc hơn gây ức chế cho quá trình trao đổi chất và chuyển hóa ôxy của tôm nuôi làm cho tôm nuôi chậm lớn, màu sắc kém mất giá.

Khi ao nhiễm phèn pH thấp thì các ion như Fe2+, Al3+ sẽ kết hợp với phốt pho (có trong phân lân) tạo thành hợp chất khó tan, hạn chế dinh dưỡng cho tảo phát triển gây nên hiện tượng khó gây màu nước ao nuôi.

Giải pháp

Không nên phơi khô nền đáy ao quá lâu đối với ao nhiễm phèn tiềm tàng. Các vết nứt trên nền đáy ao tạo điều kiện cho ôxy vào và ôxy hóa pyrit sắt. Khi cấp nước vào sẽ giải phóng hợp chất này ra khiến cho việc xử lý trở nên khó hơn. Tốt nhất là nên cải tạo ướt, xổ xả liên tục. Nếu có cày đáy ao thì cày ướt và ngâm nước liền. Nếu phơi nền đáy ao thì chỉ phơi khô đến nứt chân chim.

Bón vôi đáy ao: nhằm mục đích nâng pH đáy, khử phèn và tạo hệ đệm cho đáy. Nên bón vôi vào buổi chiều mát và cấp nước vào sáng ngày hôm sau. Không nên phơi đáy ao quá lâu.

Đối với những ao nuôi có đất bị nhiễm phèn, khi cải tạo cần dùng giấy quỳ để kiểm tra pH của đáy ao hoặc nhai trầu rồi nhổ xuống bùn đáy ao, nếu nước trầu vẫn đỏ tươi chứng tỏ pH trong ngưỡng phù hợp (7 – 8); nếu nước trầu chuyển từ màu đỏ sang màu thẫm hoặc tím chứng tỏ nền đáy bị xì phèn cần tăng lượng vôi nông nghiệp CaO bón xuống ao, liều lượng 15 – 18 kg/100 m2.

Cần dùng bạt phủ kín và từ đáy ao lên mặt bờ xung quanh ngăn không cho nước mưa thấm qua bờ tràn xuống, hoặc đắp gờ đất ngăn không cho nước mưa chảy trực tiếp xuống ao. Sau khi trời mưa, cần nhấc cánh phai phía trên của cống thoát để tháo bớt lượng nước ở tầng mặt tránh sốc pH cho tôm, cá.

Đầm nén bờ chắc chắn và giữ mực nước ao cân bằng với mương nước hoặc ao xung quanh, tránh mực nước thấp, xì phèn sẽ rò rỉ, thẩm lậu theo nước vào ao. Trong quá trình nuôi, sử dụng vôi bột hoặc vôi tôi hòa loãng với nước té đều xuống ao, liều lượng 0,5 – 10 kg/1.000 m2, định kỳ 20 ngày/lần, trước khi trời mưa nên rải vôi quanh bờ ao với liều lượng 10 kg/1.000 m2. Thường xuyên dùng hộp giấy quỳ đo pH của nước, mức thích hợp cho tôm cá sinh trưởng và phát triển 6,5 – 7,5, nếu thấp hơn ngưỡng cho phép thì phải té vôi ngay liều lượng 1 – 2 kg/100 m2.

Ở những ao bị xì phèn, nước có độ trong cao, ao nghèo dinh dưỡng, tảo không phát triển. Vì vậy, nên thay nước cũ thêm nước mới vào hoặc dùng vôi Dolomite liều lượng 20 – 30 kg/1.600 m2, bón 2 ngày 1 lần, trong vòng 20 ngày đầu để gây và giữ màu nước cho ao nuôi. tag: phần mềm pha dung dịch thuỷ canh

Đối với ao nuôi tôm, khi pH hạ thấp ngoài dùng vôi, người nuôi còn có thể sử dụng sản phẩm Sitto Thio 5.000, liều lượng 1 lít/300 m3 nước và kết hợp thêm Zeolite 10 kg/1.000 m3 nước để ổn định môi trường nước.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/xu-ly-phen-trong-nuoi-tom-5b7540ba425cc528257d5c6c.html

Nuôi tôm bằng vi sinh tiết kiệm mà hiệu quả

Vậy sự lựa chọn men vi sinh nào là thích hợp? Theo thành phần hoặc theo hàm lượng, uy tín của nhà sản xuất, liều dùng mỗi lần và chi phí cả vụ, giá cả và dịch vụ tư vấn, qua kinh nghiệm truyền nhau, sản phẩm sản xuất trong nước hay là nhập khẩu? Câu trả lời sẽ là tất cả những quan tâm trên đây. tag: pha dung dịch thuỷ canh

Giữa vô số các loại men vi sinh trên thị trường hiện nay, có lẽ người nuôi nên “tỉnh táo” để lựa chọn, đừng bị choáng ngợp bởi sản phẩm có đa dạng thành phần ở mức “số mũ to” hoặc liều sử dụng thấp, ngôn từ hoa mỹ về công dụng sản phẩm hay là giá cả thấp và chiết khấu cao.

Ưu tiên lựa chọn nên là kinh nghiệm truyền nhau, uy tín của nhà sản xuất / công ty phân phối và trên hết là trải nghiệm thực tế tại chính ao nuôi của mình.

Thực chất, có nhiều sản phẩm với thành phần và định lượng “khủng” nhưng khi xử lý tại ao không mấy tác dụng hoặc phải tăng liều gấp hai hoặc ba lần so với hướng dẫn sử dụng mà kết quả vẫn không như mong đợi

. Ngay cả khi đếm đủ định lượng vi khuẩn thì cũng chưa chắc là sản phẩm sẽ có hiệu quả trong môi trường ao nuôi thực tế vì phụ thuộc vào khả năng sống và phạm vi hoạt động / kiểm soát của từng loài / dòng vi sinh, lượng oxy, thông số lý hóa của đất và nước, tỉ lệ chất nền hữu cơ trong ao.

Bí quyết của một sản phẩm men vi sinh tốt sẽ ở kỹ thuật công nghệ nuôi cấy vi sinh của nhà sản xuất để đảm bảo các dòng vi khuẩn có lợi hoàn toàn tự nhiên, không biến đổi gien và chất lượng ổn định. Một số dòng vi khuẩn có lợi có khả năng kiểm soát tốt các thành phần dinh dưỡng trong cột nước để duy trì mật độ tảo ở mức thích hợp và hạn chế tảo độc phát triển, hoặc để ngăn ngừa các loại vi khuẩn hại và mầm bệnh tiềm tàng trong ao.

Đối với đáy ao có siphon hoặc không có siphon cũng rất cần những dòng vi khuẩn mạnh để kiểm soát sự tích tụ đáy ao, hạn chế quá trình yếm khí trong ao, giảm các loại khí độc (NH3, H2S) và hơn thế nữa là có thể hình thành các protein vi khuẩn và các floc để làm nguồn dinh dưỡng tự nhiên cho tôm. Vì thế, người nuôi nên sử dụng kết hợp sản phẩm men vi sinh xử lý đáy và nước để kiểm soát môi trường ao nuôi tốt hơn.

Người nuôi cũng nên lựa chọn các nhà sản xuất có uy tín, chuyên nghiệp và công nghệ vi sinh tiên tiến. Men vi sinh chính là những vi khuẩn sống nên đòi hỏi quy mô thiết bị hiện đại để sản xuất được các sản phẩm thực sự chất lượng cao và ổn định. Ngoài ra, các nhà sản xuất chuyên nghiệp còn có khả năng truy xuất nguồn gốc mọi thành phần trong sản phẩm từ nhà cung cấp đến người tiêu dùng cuối cùng.

Song song với hiệu quả xử lý của sản phẩm, người nuôi tất nhiên sẽ lưu tâm tính toán đến liều lượng xử lý và chi phí toàn bộ vụ nuôi. Mỗi đợt xử lý đều phải tăng liều và/ hoặc thời gian xử lý định kỳ ngắn ngày hơn thì sản phẩm giá rẻ sẽ trở thành quá đắt khi tính trên cả vụ nuôi, chưa nói đến rủi ro nếu môi trường nuôi không được xử lý kịp thời ảnh hưởng đến tỉ lệ sống và chất lượng tôm nuôi.

Khi đã chọn được một sản phẩm vi sinh tốt, người nuôi cũng cần quan tâm đến cách dùng sản phẩm: tính toán liều chính xác, định kỳ xử lý hoặc chia liều định kỳ nhỏ lại hoặc tăng liều tùy theo điều kiện thông số môi trường và quy trình cho ăn.

Thường xuyên theo dõi khay thức ăn và kiểm tra bùn đáy ao để xử lý liều vi sinh thích hợp.

Môi trường đáy ao biến động xấu, tôm sẽ ăn nhiều thức ăn trong khay, nên người nuôi có thể cho ăn nhiều hơn hoặc tăng cữ ăn sẽ làm môi trường tệ hơn, khi đó phải tăng liều vi sinh thì sẽ tốn chi phí hơn và lãng phí thức ăn.

Cũng sẽ rất mất thời gian và lãng phí khi dùng liều vi sinh quá cao có thể gây sụp tảo, mất cân bằng môi trường gây căng thẳng cho thủy sản nuôi.

Ở các ngày nhiệt độ cao hoặc mưa liên tục thì cần điều chỉnh tăng liều vi sinh thích hợp để tảo không phát triển quá dày.

Không sử dụng vi sinh cùng lúc với hóa chất và kháng sinh, vì hóa chất và kháng sinh sẽ làm chết hoặc làm mất tác dụng của vi sinh. Nếu đã sử dụng hóa chất và kháng sinh trong ao thì khoảng 2 – 3 ngày sau nên sử dụng vi sinh để khôi phục lại hệ vi sinh vật có lợi trong ao để cải thiện chất lượng nước và đáy ao.

Đa phần các sản phẩm vi sinh ở dạng bột, người nuôi nên cân trọng lượng liều phù hợp với đối tượng nuôi, mật độ và diện tích / thể tích ao nuôi. Cách sử dụng men vi sinh dạng bột là nên cho vào chậu một ít nước trước khi đổ sản phẩm vào để hạn chế bị gió tạt, khuấy đều và tạt khắp ao.

Thời gian xử lý vi sinh tốt nhất là lúc trời nắng và khi môi trường trong ao đã đủ lượng oxy hòa tan để các dòng vi khuẩn nhanh chóng được khởi động và nhân rộng sinh khối.

Có một quan niệm nên thay đổi về cách sử dụng men vi sinh là việc không sử dụng trước khi thả giống và sau khi thu hoạch, sử dụng loại men chất lượng trung bình, cắt giảm liều ở giai đoạn nuôi đầu vụ thì đều không thích hợp.

Môi trường ao nuôi trước khi thả giống đã được cải tạo và diệt khuẩn kỹ nên rất cần liều vi sinh mầm đầu tiên để nhân rộng sinh khối vi khuẩn có lợi đủ để lấn át vi khuẩn có hại và mầm bệnh tiềm tàng trong ao, đồng thời duy trì sử dụng vi sinh trong suốt quá trình nuôi để tạo môi trường thuận lợi nhất cho tôm phát triển.

Mặt khác, sau khi thu hoạch, ao nuôi còn lại rất nhiều các chất thải, cặn bã, phân tôm, xác tảo, bùn đen, mùi hôi thối, … cho nên cần sử dụng vi sinh để xử lý nước và đáy ao trước khi xả thải ra môi trường nhằm duy trì cho ao nuôi / vùng nuôi an toàn sinh học và bền vững ở các vụ tiếp theo.

Nên lưu ý rằng chi phí xử lý sự cố / rủi ro biến động môi trường hoặc phục hồi môi trường thì rất tốn kém, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tỉ lệ sống của tôm hoặc thủy sản nuôi. Men vi sinh không phải là liều thuốc tiên, nên không thể khi nào có sự cố môi trường thì mới sử dụng.

Cần định kỳ xử lý vi sinh để duy trì một mật độ vi khuẩn thích hợp nhằm kiểm soát sinh học môi trường nước và đáy ao, ổn định các điều kiện mong muốn trong môi trường nuôi trồng, ngăn ngừa và lấn át các loài vi khuẩn gây bệnh, tảo độc và mầm bệnh tiềm tàng trong ao

. Người nuôi nên áp dụng quy trình xử lý vi sinh trước, trong và sau mỗi vụ nuôi.

Men vi sinh nên được bảo quản ở nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp, nóng và nơi ẩm thấp. Nếu sử dụng không hết gói thì gói kín phần còn lại, cần tránh ẩm để không bị đóng vón.

Tóm lại, chọn một loại men vi sinh tốt sử dụng đúng cách kết hợp trong quy trình nuôi an toàn sinh học sẽ giúp người nuôi quản lý và theo dõi môi trường nuôi thuận lợi hơn và đảm bảo an toàn sức khỏe cho tôm và thủy sản nuôi khác. tag: phần mềm pha dung dịch thuỷ canh